
TUYỂN TẬP LUẬN ĐỀ
Tác giả: Bùi Giáng Nhà xuất bản Đà Nẵng Số trang: 353 Hình thức bìa: Bìa mềm Khổ: 13,5×20 cm
Văn học, sử học, tiểu luận, tùy bút.

Tác giả: Bùi Giáng Nhà xuất bản Đà Nẵng Số trang: 353 Hình thức bìa: Bìa mềm Khổ: 13,5×20 cm

Tác giả: Saint – Exupery Dịch giả: Bùi Giáng Nhà xuất bản: NXB Thời Đại Hình thức bìa: Bìa mềm Mô tả Câu chuyện kể, là chuyện phi công và phi cơ. Nhưng giọng người là giọng trần gian đi tìm linh hồn mình giữa non nước quạnh. Văn minh, văn hóa đương phiêu bồng đợi giờ thành tựu. Những xế chiều kỷ niệm đương linh cảm sương vàng bình minh. Saint-Exupéry đã đi mất từ lâu, nhưng tiếng ngân dài trong suốt vẫn xuyên vào trong giấc chiêm bao thương nhớ của những người ở lại. Kẻ trước, người sau, xin “dịch” đi, dịch lại những lời… Dịch, biến làm chuyển dịch cho tương giao. Bất cứ nhìn ai cắm cúi dịch Saint-Exupéry, ta hãy xem như đó là chuyện chung của những con người rủ nhau ghé vào bờ mộng. “Ở giữa lòng một vài đêm thâu lục nhạt, tôi đã nhìn những tia lửa băng trời thành một đường rẽ vút như một làn gió dài dàn rộng giữa muôn sao”, SAINT-EXUPÉRY Theo dõi giấc mộng dài của Saint-Exupéry, lại gọi ngôn ngữ Việt Nam về hạ tứ, nhiều phen phải bàng hoàng: Chúng ta đứng trước mấy lần hiểm họa của màu sắc lục hồng cứ trùng điệp rủ nhau bay, tung lên và phủ xuống. “Phi hồng trường phát phi kiên, Ôi mùa tích lục phi tuyền lên cao”. René Char còn bảo: “Ne regardez qu’une fois la vague jeter l’ancre dans la mer. Hãy nhìn chỉ một lần thôi, làn sóng thả neo vào lòng biển ”. Dịch văn – sao cứ gọi là dịch? – dịch văn biến thành câu chuyện: vừa bay lên, vừa lặn xuống, vừa nối liền hai bờ ngôn ngữ quá xa nhau. Thật vừa vui, vừa mệt mỏi. Ngôn ngữ đa âm đòi hỏi lối phiên dịch như thế nào qua ngôn ngữ đơn âm? Đó là điều đáng xui chúng ta tư lự đăm chiêu. Vì lẽ: tiết điệu đa âm có một phong thái dồi dào đương yêu cầu được tái hiện. Đây là trường hợp: ở bên kia từ ngữ, tiết nhịp của ngôn ngữ đương nói rất nhiều. May sao, Việt ngữ đơn âm lại giàu sang âm vận. Nhưng không phải: ở mọi cơ hội, đều giản dị giàu sang. Do đó cần thêm một chút chuyển hóa thỏa đáng, thì lời dịch sẽ tái lập được “cung bậc” gieo vàng của nguyên ngôn. Mà nguyên ngôn Saint-Exupéry lại chứa chan những thơ mộng khi u trầm, ngậm ngùi lúc lộng lẫy. Cái điệu nói la cà diệu vợi, vừa chát chát vừa hắt hiu, lúc nhắc tình bạn hữu, lúc gợi tiếng U già, lúc chuyện trò với gái trên nhịp cầu hai cõi hoang vu. “Tả nhi nữ tư tình, đãng khí hồi trường. Tả anh hùng sự tích, nghĩa bạc vân tiêu”. Hai điếu xì gà của một ông bạn cho hôm qua, tôi vừa hút xong hết cả. Vậy xin kết thúc. Bùi Giáng Mục lục Tựa I- DẶM ĐƯỜNG BAY II- BẠN ĐỒNG NGHIỆP III- PHI CƠ IV- TÀU BAY VÀ TRÁI ĐẤT V- MÀU XANH SA MẠC VI- TRONG SA MẠC VII- GIỮA LÒNG XA MẠC VIII- NGƯỜI TA Về tác giả Saint Exupéry sinh năm 1900, mất năm 1944 (ông lớn hơn Albert Camus 16 tuổi). Nhà – văn – phi – công đại tài, trở thành trứ danh với cuốn Bay đêm (Vol De Nuit) giải thưởng Fémina, 1931; trước đó đã có ra Tàu Thơ về Nam (Courrier Sud). Tiếp theo sau là Phi công thời chiến (Pilote de Guerre), Hoàng tử bé (Petit Prince), Cõi người ta (Terre des Hommes)… Những kỷ niệm của ông trong cuộc sống ở Sahara làm phấn phát tinh thần ông, linh cảm ông, và xui ông chọn lựa sa mạc như là chỗ đồng nhất quy lai của cái chốn cái nơi ông đi về. Quy tụ toàn thể tư niệm tư tưởng suốt bình sinh – một bình sinh chịu tử diệt để hồi sinh giúp đồng bào thiên hạ nhận thấy đâu là chỗ đi về của mọi hoạt thể lao tứ, lao tâm. — “Gia đình, nhà cửa, nghề nghiệp, lao động, cuộc hòa đồng của nhân loại, và cuộc gắng gổ vô cùng tận để đạt tới một sự đồng cảm vượt xa cuộc hì hục bình sinh một cá nhân…” Tính cách nhân bản lạ lùng của ông đã giúp cho mọi người trong “bốn biển một nhà” bằng linh cảm (dự cảm) của tâm linh, nhận ra đâu là cứu cách tuyệt đối của những “cánh hồng bay bổng tuyệt vời…” Cuộc tán loạn lưu ly xã hội Âu Châu giữa trận hung tàn Đệ Nhị Thế Chiến, những khốc liệt mà ông đã chứng kiến ngay trên xử sở ông, những biên cố kỳ lạ ông đã chứng giám ngay trên đất Huê Kỳ, đã có tác dụng chuyển hướng những tư niệm của ông. Ồng sang Huê Kỳ năm 1940 (tháng chạp). Ông rời New York đầu năm 1941… đi về California chữa bịnh… Trở về New York… Ông tiếp tục làm việc – ghi vào trong Hoàng tử bé bằng một ngôn ngữ tượng trưng – thơ mộng vô cùng, và xa thẳm vô cùng – Tất cả cái tiếng Hót của con Thiền Nga trước khi lìa cõi đời vĩnh viễn… (Có lẽ, nếu hoàn cảnh cho phép, chúng ta sẽ gặp lại Saint Exupéry trong một vài tác phẩm khác) – Những tài liệu trên đây đều góp nhặt từ nhà Gallimard. Bùi Giáng 1995

Tác giả: Bùi Giáng Nhà xuất bản Văn Học Năm xuất bản: 2023 Hình thức: Bìa mềm Kích thước: 13,5×20,5cm Số trang: 128 Nhân kỷ niệm 25 năm (17/8/Mậu Dần – 17/8/Quý Mão) ngày Thy sỹ Bùi Giáng “từ biệt cõi trần”. Mô tả “Giữa trưa em đến thình lình Đem bao vẻ ngọc lung linh đá vàng Đổ vào một trận mê man Tình yêu có lẽ thênh thang lạ lùng Anh về suy nghĩ mông lung Nàng Tiên có một mà não nùng có hai” (trích bài thơ Một Nàng Tiên) Tập thơ Trăm Năm Vui Buồn được Bùi Giáng sáng tác vào năm 1994. Trong tập thơ có in một số thủ bút của ông. Tập thơ được viết vào những năm cuối đời nhưng vẫn giữ được sự phóng khoáng, hồn nhiên và bay bổng trong thơ Bùi Giáng. — LỜI THƯA Nhân kỷ niệm 25 năm (17/8/Mậu Dần – 17/8/Quý Mão) ngày Thy sỹ Bùi Giáng “từ biệt cõi trần”. Chúng tôi thực hiện tập di cảo này như một nén nhang lòng để tưởng nhớ đến ông. Thi tập Trăm Năm Vui Buồn được ông làm vào năm 1994. Đây là tập di cảo thứ 14 được giới thiệu đến quí bạn đọc và thân hữu. TRÍCH “LỜI THƯA”, Quỳnh Na

De Miscault dịch và minh họa tranh/ Tuệ Sỹ giới thiệu/ song ngữ Việt Pháp/ trình bày tại Pháp bởi Jean-Luc Barilla. Tác giả: Tuệ Sỹ Nhà xuất bản: NXB Hồng Đức Khổ: 23×23 cm Hình thức: in màu trên giấy Couche Matt Số trang: 76 Mô tả Mục lục: Avant propos Biographie L’oeuvre Đến với thơ Hoàng Cầm từ ngôn ngữ Pháp Tình khúc

Tác giả: Thi Thoại Quách Tấn Nhà xuất bản Phương Đông Mô tả TẬP THƠ NÀY gồm một trăm lẻ tám bài thất tuyệt. Một bài rút ở Một Tấm Lòng, Sáu bài trích ở Mùa Cổ Điển, Một trăm lẻ một bài chọn trong số thơ làm từ xuân 1941 đến xuân 1958. Trước kia lấy tên là LÁ MÃ-TIỀN do một trong những bài tuyệt cú đầu tiên có câu: Theo thời hoa cỏ đua màu thắm Ngậm đắng riêng đôi khóm Mã-Tiền Nhưng khi đem ra sắp xếp lại, nhận thấy tên sách không nói trọn niềm Thơ. Bèn đổi lại là: ĐỌNG BÓNG CHIỀU cho hợp tình họp cảnh. Sông xuân tiếng địch, Con thuyền tịch-dương, Bồi-hồi mây nước muôn phương… Nha Trang , tiết Lập thu năm Tân-Sửu (1961) QUÁCH TẤN

In lần đầu 1962. Tái bản lần 6, Hương Tích, 2014, với bài Giới thiệu của Phạm Công Thiện và Thích Phước An, và Phụ lục với 16 bài thơ trong thi tập Dâng Rừng ấn hành năm 1957. Tác giả: Hoài Khanh Nhà xuất bản Hồng Đức Mô tả In lần đầu 1962. Tái bản lần 6, Hương Tích, 2014, với bài Giới thiệu của Phạm Công Thiện và Thích Phước An, và Phụ lục với 16 bài thơ trong thi tập Dâng Rừng ấn hành năm 1957. _____________ Nỗi cô đơn của Hoài Khanh Thôi nước mắt đã ghi đời trên đá Và cô đơn đã ghi dấu trên tay Chiều 30 Tết, sương mù xuống nhiều, hai người lang thang trên mấy nẻo đường ở Đà lạt… Hoài Khanh bỏ Biên hòa và lên Đà lạt ăn Tết với tôi. Bạn bè dăm đứa hắt hiu cuối trời… Hôm đó, tôi đi vắng. Hoài Khanh bơ phờ đứng chờ tôi. Vừa bước về nhà, chợt thấy Khanh, tôi rưng rưng ôm anh mà hôn… Xa nhau bao ngày, bây giờ lại trùng phùng nơi cảnh trời thơ mộng vào ngày cuối năm. Ngày trước khi chia tay nhau chúng tôi có ngờ đâu lại gặp nhau trong một khung cảnh thiên đàng, giữa mùa hoa đung đưa, dưới bầu trời đầy mây trắng lê thê trong hơi xuân mơ hồ của Đà lạt. Chúng tôi dẫn nhau lang thang trên những đường phố tối tăm nhất, lắng nghe tiếng chó sủa và lắng nghe tiếng lòng mình rạo rực đau khổ vì quá bơ vơ, vì quá lạc lõng giữa sa mạc loài người. Người này nắm tay người kia, dắt nhau đi, lê thê như hai người mù đi xin ăn giữa phố chợ: chúng tôi đi ăn mày một chút tình thương giữa con người, một chút giao cảm, một chút rộng lòng, một ánh lửa ấm áp giữa đêm lạnh nhất và đen tối nhất của ngày cuối năm. Người ta chết và không hạnh phúc. Cuộc đời đã quá nhiều ngộ nhận. Đêm ba mươi Tết không mưa. Chúng tôi nhắc đến những người bạn khác, nhắc đến Bùi Giáng, Hoàng Trúc Ly, … Mỗi người bơ phờ ở một góc trời, ôm một nỗi lòng tha thiết, nồng nàn dâng trọn hồn mình cho đời. Hoài Khanh ở với tôi được vài ngày, rồi không hiểu sao, tôi lại đuổi Khanh về Biên hòa… Tôi chịu anh không được. Ngày anh đến, tôi hôn anh. Ngày anh đi, tôi muốn anh đi cho phức mắt. Mấy ngày anh ăn Tết với tôi ở Đà lạt, anh chỉ im lặng và ít nói. Chúng tôi thương nhau lắm. Thế mà chỉ nhìn nét mặt của anh và chỉ nghe sự im lặng của anh, tôi kinh hoàng đi. Tôi muốn đuổi anh đi ngay, tôi muốn đuổi một hình ảnh hãi hùng: tôi muốn được thanh bình trong tâm hồn trong những ngày này. Bởi vì đây là hình ảnh bi đát của Đời, của con người, của một kẻ bị đày giữa bãi đất hoang tàn của nghĩa địa trần gian. Nhìn nét mặt Khanh, tôi thấy sự Chết, tôi thấy Bệnh hoạn, Đau khổ, Quằn quại, Khắc khoải, Ray rức, Xao xuyến, Hãi hùng, Hoang liêu, Cô đơn; tôi thấy sự Chiến bại, sự Thất vọng của con người. Nghe sự im lặng của Khanh, tôi cảm thấy Thượng đế, tôi cảm thấy Quỷ ma, tôi cảm thấy Tiếng nói của một ngàn đêm, hai ngàn đêm, triệu ngàn đêm, tiếng nói của muôn triệu ngàn đêm vọng về hiu hiu trong lòng nhân thế. Tôi không muốn nghe, cũng như bao nhiêu người khác cũng không muốn nghe, bởi vì đó là tiếng nói của sự thật: Tiếng nói của dòng sông vạn ngàn năm chảy trôi về biển. Dòng sông kia cứ vẫn chảy xa mù… Tôi muốn trốn thân phận con người, tôi không muốn nhìn hình bóng lẻ loi của một kẻ bị đày ở cuối trời miên viễn… Tôi lẩn trốn vì thấy mình không thể… không thể được. Không thể trốn. Chỉ còn cách tự tử như Hemingway trong một cơn khủng hoảng thác loạn. Nếu không làm thế thì đứng lại mà trừng mắt ngó nhìn nét mặt Khanh, lắng nghe sự im lặng của Khanh và đừng chạy trốn nữa. Thế rồi cách đây một tuần, lúc về Sài gòn, tôi có ghé lại Biên hòa để gặp Khanh. Khanh chỉ ở một mình, trong một căn nhà tồi tàn, tôi nhìn lên vách và gặp những bức tranh của Michel Ange, của Van Gogh và Picasso, những bức ảnh của Pasternak, Evtushenko, Salinger, Hemingway và Camus, rồi tôi nhìn Khanh. Bỗng nhiên, tôi thấy tất cả sự vật ngừng lại, cả thế giới đứng lặng lờ và Hoài Khanh cũng đứng lặng lờ như một bức ảnh treo tường; tôi bay ra ngoài thế giới này và có cảm tưởng như là một hồn ma trở về viếng lại thế giới loài người, ngắm lại những hình ảnh bất di bất dịch của con người giữa dòng đời trôi chảy và trong một thoáng giây, tôi lắng nghe được tiếng nói miên man của sự im lặng đưa vọng ra từ đôi môi bất động của những bức ảnh kia và bỗng nhiên tôi thấy sống lại và không còn là hồn ma nữa, tôi nhìn mấy ngón tay, nhìn lại người mình đã mang lại xác người và tôi nhìn lại Hoài Khanh, tôi thấy anh không còn là một bức ảnh nữa. Anh cũng cử động như tôi và anh mở miệng cười. Tôi cũng mở miệng cười, nụ cười của một người mà linh hồn vừa mới thoát ly ra thể xác. Đà lạt ngày 26 tháng 4 năm 1962 – Phạm Công Thiện Thông tin bổ sung Trọng lượng 0,24 kg

Tác giả: Thi Thoại Quách Tấn Nhà xuất bản Hồng Đức Hình thức bìa: Bìa mềm Mô tả Quách Tấn (1910-1992), quê Bình Định. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là “Bàn thành tứ hữu”, nghĩa là bốn người bạn ở thành Đồ Bàn. Trong Thi nhân Việt Nam , ông được giới thiệu làm nghề phán sự tòa sứ Nha Trang. Bố ông là người Tây học, mẹ là người Hán học. Ông bắt đầu học chữ Hán, năm 11 tuổi mới học chữ Quốc ngữ, học trường Quy Nhơn, có bằng thành chung. Quách Tấn tập làm thơ từ lúc học lớp đệ nhất niên trường Quy Nhơn. Lúc ra trường, ông đã thông thạo các thể thơ, nhưng chính thức bước vào làng văn thơ từ năm 1932. Năm 1933, ông đã có thơ đăng trên An Nam tạp chí , Phụ nữ tân văn , Tiếng dân và Tiểu thuyết thứ bảy … “Quách Tấn đã tìm được những lời thơ rung cảm chúng ta một cách thấm thía. Người đã thoát hẳn cái lối chơi chữ nó vẫn là môn sở trường của nhiều người trong làng thơ cũ”, trích đoạn đánh giá của Hoài Thanh. Theo vnexpress.net Tác phẩm Vườn thơ Hàn luật thiếu người chăm sóc, vắng người thăm viếng, mỗi ngày mỗi thêm tàn tạ tiêu điều. Nếu tình trạng này kéo dài thì chỉ trong vài mươi năm nữa, không còn mấy ai biết thơ Hàn luật là “hà vật”. Để gìn giữ phấn hương xưa được phần nào hay phần nấy, tôi đã viết được 4 tập thi thoại: Hương Vườn Cũ: nói về thơ cổ từ đời Trần đến đời Nguyễn. Trong Vườn Hoa Thơ: giới thiệu những vần thơ kim có ít nhiều giá trị do các bạn bốn phương gởi đến. Những Bức Thư Thơ: chú trọng về những điển tích thường dùng trong thơ. Thư gửi các bạn ham làm thơ Đường luật: bàn về phép làm thơ. Trong tay sẵn còn một ít tài liệu, tôi viết tiếp tập Hứng Phấn Nâng Hương. Thông tin bổ sung Trọng lượng 0,75 kg

Tác giả: J. D. Salinger Dịch giả: Phùng Khánh, Phùng Thăng Nhà xuất bản Văn Học Khổ sách: 13×20.5 cm Ngày xuất bản: 09-2017 Hình thức: Bìa mềm Mô tả Sức sống lâu dài của tiểu thuyết “Bắt trẻ đồng xanh” Ra đời đến nay tròn 70 năm nhưng tiểu thuyết “Bắt trẻ đồng xanh” vẫn rất gần gũi với độc giả hiện đại. Giá trị nhân văn, sự tử tế và đặc biệt là những suy tưởng của người trẻ dễ tổn thương làm nên sức sống của tác phẩm từng gây nhiều tranh cãi này. Tiếng nói tâm hồn của người trẻ “nổi loạn” “Bắt trẻ đồng xanh” của nhà văn Mỹ J.D.Salinger xoay quanh câu chuyện của Holden Caulfield – cậu bé 17 tuổi vừa bị đuổi khỏi trường dự bị đại học Pencey. Chàng trai thông minh và nhạy cảm dùng lối kể cay độc pha lẫn giễu cợt để mô tả một xã hội đầy rẫy những xấu xa, bỉ ổi, những bộ mặt đạo đức giả khiến cậu không thể chịu nổi. Qua đôi mắt của Holden Caulfield, xã hội Mỹ hiện lên với đầy những mảng tối. Đó là một xã hội thiếu thốn sự chân thật. Xã hội của những bộ tịch và đạo đức giả. Holden Caulfield chán ghét mọi thứ. Cậu ghét điện ảnh, ghét thói đạo đức giả thực dụng, ghét cách người ta từ thiện chỉ để lấy cái danh, ghét thầy hiệu trưởng, ghét ông học sinh cũ giàu phất lên nhờ việc bán quan tài, ghét luôn cả mấy thằng bạn… Có ấn tượng xấu đối với hầu hết người mình gặp, Holden Caulfield cho rằng cậu đang sống rất tử tế, với những giá trị đạo đức và rất là con người. Cậu nghĩ cuộc sống này thật đơn giản nhưng con người lại đang chọn một cách sống quá bộ tịch, ai ai cũng đang đâm đầu vào kiếm tiền, làm giàu và nói những câu chuyện hết sức nhạt nhẽo. Cũng vì thế, cậu không thèm học hành gì theo cách thầy cô muốn, để rồi bị đuổi khỏi ngôi trường Pencey. Có thể thấy những suy tưởng, những tâm trạng chán chường của cậu thiếu niên ấy thật sự gần gũi với những người trẻ hiện nay. Trong guồng quay của xã hội, khi vật chất dần trở thành thứ để định danh con người, thì có bao nhiêu người như Holden Caulfield, bởi vì quá chán ghét mà trở thành nhân vật bị đẩy ra ngoài rìa xã hội. Việc tác giả lật tẩy hết những góc tối trong tâm trí người trẻ qua nhân vật Holden Caulfield cũng đã khiến nhiều cha mẹ phải bàng hoàng. Ngày nay có bao nhiêu đứa trẻ đang lớn, đang chật vật hòa mình với cuộc đời, đang muốn một lần bỏ tất cả để lang thang nơi góc trời và thương tiếc cái tôi thảm hại của bản thân? Holden có thể coi là đại diện cho hình ảnh của người trẻ bị mất phương hướng, thiếu cân bằng và dễ bị tổn thương – một hình ảnh dễ thấy của lớp thanh niên hiện nay. Dấu ấn về giá trị nhân văn Không chỉ tạo nên sức sống bằng việc mô tả một hiện thực trần trụi còn đúng đến tận hôm nay, “Bắt trẻ đồng xanh” còn tạo được dấu ấn bởi giá trị nhân văn, sự tử tế mà nó truyền tải. Mặc dù với những suy nghĩ và lời nói tiêu cực, và Holden Caulfield khinh ghét cả thế giới, nhưng tác giả lại rất thành công khi xây dựng được hình ảnh một cậu bé 17 tuổi và không để người đọc ghét bỏ. Thay vào đó là sự đồng cảm với chính cậu. Phía sau vẻ ngoài chán chường, bất mãn là một Holden đầy lòng trắc ẩn. Lòng trắc ẩn của cậu chính là Allie – người em trai đã qua đời khi cậu 13 tuổi; là Phoebe – cô em gái mà cậu có thể “cà riềng cà tỏi” cùng suốt ngày đêm. Trong mấy ngày vất vưởng, những lúc tâm hồn trống rỗng hoặc khi yếu lòng Holden lại nhớ Phoebe. Cậu đến công viên, viện bảo tàng Phoebe thường lui tới để được nhìn em từ xa. Cậu mua cho Phoebe một đĩa CD, đĩa bị gãy, cậu giữ lại những mảnh vỡ và luôn mang theo bên mình. Có đêm quá nhớ Phoebe, cậu lén vào nhà của chính mình vào phòng em chỉ để nghe em kể luyên thuyên về vở kịch câm em sắp diễn. Holden từng có ý nghĩ sẽ không về nhà nữa, sẽ đi thật xa và sống ở một nơi nào đó, lập nghiệp rồi có gia đình. Trước khi thực hiện ý định, người duy nhất cậu gặp cũng chỉ là Phoebe… “Bắt trẻ đồng xanh” kết thúc bằng cảnh Holden bình yên nhìn Phoebe vui đùa. Cậu không còn quan tâm đến việc mình đã ốm ra sao hay ngôi trường thứ năm sẽ như thế nào. Nó không hẳn là một kết thúc mở. Nó tựa như một đoạn ngắn trong cuộc hành trình trưởng thành đầy rẫy những nỗi cay đắng của Holden Caulfield. Một nốt trầm xuống làm dịu đi không khí buồn bã của cuốn tiểu thuyết. Nhưng cũng bởi vì thế, nó khiến cho ta có niềm tin rằng, trưởng thành cay đắng ấy đôi khi cũng có vài khoảnh khắc thực đẹp. Cuộc đời vốn thế, vẫy vùng ra sao, trống rỗng ra sao, rồi cũng sẽ lớn lên… Tiểu thuyết gây tranh cãi suốt 70 năm “Bắt trẻ đồng xanh” xuất bản lần đầu tiên tại Mỹ năm 1951. Với việc sử dụng nhiều ngôn từ thô tục, lối xây dựng nhân vật chán chường và đề cập đến vấn đề tình dục của thanh thiếu niên, tác phẩm đã vấp phải rất nhiều tranh cãi lớn. Năm 1960, một giáo viên bị sa thải vì đã giới thiệu sách “Bắt trẻ đồng xanh” trên lớp. Trong hệ thống các trường trung học và thư viện của Hoa Kỳ từ 1961 đến 1982, tiểu thuyết này là tác phẩm bị kiểm duyệt cắt bỏ nhiều nhất. Thế nhưng cùng với những điều đó, tác phẩm lại được tạp chí Time (Mỹ) đưa vào danh sách 100 cuốn tiểu thuyết hay nhất từ năm 1923 đến nay. Trung bình 250 nghìn bản “Bắt trẻ đồng xanh” được bán ra mỗi năm, đến nay đã có khoảng 65 triệu ấn bản. Khoảng năm 1964 – 1965, NXB Lá Bối ở Sài Gòn đã in bản dịch tiếng Việt “Bắt trẻ đồng xanh” đầu tiên do Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch. Bản dịch này được NXB Văn học và Nhã Nam tái bản có sửa chữa năm 2008. Dù vẫn còn nhiều tranh cãi nhưng cho đến nay “Bắt trẻ đồng xanh” vẫn khẳng định được giá trị của mình khi không hề “lạc điệu” với người trẻ hiện đại. Có thể nói đây là một tác phẩm thực sự xuất sắc về tuổi trẻ, đã bóc trần mọi góc khuất của xã hội cũng như hành trình trưởng thành của mỗi con người. Cuốn sách cũng truyền cảm hứng cho nhiều nhạc phẩm như “The Catcher in the Rye” của nhóm Guns N’ Roses, “If You Really Want to Hear About It” của nhóm The Ataris… Nhân vật Holden Caulfield trong “Bắt trẻ đồng xanh” có nhiều phần giống với tính cách của tác giả. Salinger thời trẻ cũng từng là một thanh niên sống phóng khoáng không theo một khuôn mẫu và suy nghĩ cũng chẳng giống ai. “Bắt trẻ đồng xanh” đã đem lại danh tiếng cho J.D.Salinger, nhưng cũng từ khi xuất bản cuốn tiểu thuyết, ông lui về ở ẩn. Ông ít giao thiệp với người khác, và chuyên tâm nghiên cứu yoga, thiền. Theo Bảo Anh, phunuvietnam.vn

Tác giả: Tuệ Sỹ Nhà xuất bản Đà Nẵng Hình thức: Bìa cứng Ca Dao xuất bản: 1973 Hương Tích tái bản 12/2023 có bổ sung hình ảnh, hiệu chỉnh toàn bộ phần Hán ngữ. Mô tả … Người tu sĩ tuổi 20 mà cuộc đời tưởng chừng êm ả bình an dưới mái hiên chùa, trong điện Phật u trầm mênh mang mỗi sáng khuya vẫn nghe ra đâu đó những tiếng sấm rền cuối trời phương ngoại. Bên những ngôi Bắc đẩu trên vòm trời Thi ca Trung nguyên buổi thịnh triều như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha, Bạch Cư Dị…, ông đã tìm đến Tô Đông Pha với những đồng cảm sâu lắng của một thanh niên và một ông già 60 còn lận đận nơi đất trích, kẻ phương Nam người đất Bắc, và cách nhau trong thoáng chốc 1000 năm văn học sử. Sau này có nhà phê bình văn học nhận xét: “Tuệ Sỹ viết về Tô Đông Pha mà như cũng viết cho chính mình!” Mới hay câu chuyện Tô Đông Pha, là của Tô Đông Pha, nhưng những đọa đày lao viễn mộng là của chung cho mọi người dưới Trời thơ, giữa ba đào lịch sử. Sực nhớ, Phạm Công Thiện đã viết một câu ngắn gọn nhưng có lẽ không phải bằng mực mà bằng máu và nước mắt: Triết lý là sự nghiệp tàn nhẫn của cả một đời người. Thi ca lại càng tàn nhẫn hơn nữa. Tác phẩm “Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng” đã ra đời như thế, Ca Dao xuất bản 1973. Kỷ niệm 50 năm ra mắt tác phẩm, Hương Tích tái bản với bổ sung hình ảnh và hiệu chỉnh toàn bộ phần Hán ngữ.

Mô tả Bộ “ Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam ” được biên soạn từ năm 1972. Theo chúng tôi, lịch sử Phật giáo Việt Nam có thể chia làm ba thời kỳ lớn: – Thời kỳ thứ nhất, từ khởi nguyên cho đến khi Lý Bôn xưng đế lập nên Nhà nước Vạn xuân. – Thời kỳ thứ hai, bắt đầu từ lúc dòng thiền Pháp Vân ra đời cho đến cuối đời Trần. – Thời kỳ thứ ba, từ đầu đời Lê tới cận đại. Mỗi một giai đoạn có mỗi nét đặc trưng và một quá trình phát triển tất yếu của nó. Thời kỳ đầu này đánh dấu sự xuất hiện Phật giáo trên đất nước ta, cách thức tiếp thu tư tưởng và nhận thức Phật giáo của nhân dân ta. Nó sẽ cho chúng ta thấy Phật giáo đối với dân tộc ta là gì, đã có những đóng góp vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước và duy trì bản sắc truyền thống văn hóa Việt Nam như thế nào. Những vấn đề này chưa được những người nghiên cứu chú ý tra cứu tra khảo đúng mức. (Trích dẫn trong LỜI GIỚI THIỆU của Lê Mạnh Thát – Mùa Phật Đản – Phật lịch 2543 – 1999)

Tác giả: Thích Phước An Idea: Bay Xa Tranh: Lê Thiết Cương Trình bày: Trần Công Khanh Nhà xuất bản: NXB Hồng Đức Phát hành: Văn Lang Số trang: 340 Ngày xuất bản: 07/2018 Mô tả Lời Thưa Trước khi vào sách Thích Phước An Trong tác phẩm Khơi Mạch Nguồn Thơ Thi Sĩ Seamus Heaney, người Ái Nhĩ Lan được giải thưởng Nobel văn chương vào năm 1995, Phạm Công Thiện đã viết một câu đầy xúc động: “Con người chỉ biết lắng nghe, khi con người nghe được tiếng nói thì thầm của tổ tiên mình đồng vọng từ bao nhiêu ngàn năm, từ suối nguồn cao cho đến cơn gió vèo, qua rặng lau sậy dưới bãi biển chiều nay. Chiều hôm nay là tất cả những chiều trên mặt đất…”. Phạm Công Thiện mà gần hết cuộc đời đều lang bạt kì hồ ở xứ người và quan trọng hơn nữa là trên 40 tác phẩm còn để lại (cả dịch lẫn sáng tác) hầu hết đều viết về các nhà thơ, nhà văn cùng các triết gia Tây phương. Bởi vậy cho nên, câu vừa trích dẫn trên đáng được để chúng ta suy nghĩ. Tôi khởi sự viết tập sách này vào những năm cuối thập niên 80 và những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Trong những năm tháng như dài lê thê ấy, tôi chỉ còn biết an ủi duy nhất là “lắng nghe tiếng nói thì thầm của tổ tiên mình vọng lại từ bao nhiêu nghìn năm”. Nhưng thông điệp mà tổ tiên đã để lại chúng ta là gì? Theo tôi, chỉ có 3 điều giản dị như sau: Thứ nhất là, hãy yêu quê hương đất nước, mà trước tiên là phải thấy được cái đẹp vô cùng đơn sơ mộc mạc của cánh đồng lúa xanh, của đàn cò trắng, của những đứa trẻ mục đồng lùa trâu về chuồng, trên những con đường làng yên ả trong bóng chiều tà. Như bài thơ Ngắm Cảnh Chiều Tà Trên Phủ Thiên Trường (Thiên Trường Vãn Vọng) của Trần Nhân Tông: Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên Bán vô bán hữu tịch dương biên Mục đồng địch lý quy ngưu tận Bạch lộ song song phi hạ điền Thôn trước thôn sau, đều mờ mờ như khói phủ Bên bòng chiều (cảnh vật), nửa như có nửa như không Trong tiếng sáo, mục đồng lùa trâu về hết Từng đôi cò trắng hạ cánh xuống đồng Thứ hai là, đừng tìm kiếm cái đẹp ở đâu xa, mà phải tìm kiếm cái đẹp trong những sự vật tầm thường, nhỏ nhoi chung quanh ta. Như Nguyễn Trãi đã chợt ngộ đạo lý Bát Nhã của Phật Giáo trong một lần đi dạo trên con đường làng bỗng thấy một bông hoa dâm bụt (mộc cẩn) nở rộ bên bờ rào cạnh bờ ao: Ánh nước hoa in một đóa hồng Vết nhơ chẳng bén Bụt là lòng Chiều mai hoa nở chiều hôm rụng Sự lạ cho hay tuyệt sắc không (Hoa Mộc Cẩn) Và sau cùng, phải biết khát khao những chân trời của tự do, mà muốn đến được chân trời ấy thì chúng ta phải chấp nhận lên thác xuống ghềnh. Vì chỉ trong tự do thì chúng ta mới khám phá ra được mọi vẻ đẹp của cuộc đời. Như Tuệ Trung Thượng Sĩ, nhà thơ và nhà tư tưởng lớn nhất của đời Trần ở thế kỷ thứ XIII đã sử dụng ngôn ngữ của thi ca để gửi gắm tâm sự ấy trong bài thơ có nhan đề Vui Thích Giang Hồ (Giang Hồ Tự Thích): Tiểu đĩnh trường giang đãng dạng phù Du dương trạo bát quá than đầu Nhất thanh hà xứ tân lai nhạn Trắc giác thu phong biến thập châu Sông dài thuyền nhỏ nổi lênh đênh Cất mái chèo qua đoạn thác ghềnh Một tiếng nhạn trời đâu vắng đến Gió thu như đã dậy mênh mông (Đào Phương Bình dịch) Nói tóm lại, yêu quê hương đất nước, yêu cái đẹp và khát khao tự do là những chủ đề được nhắc đi nhắc lại trong tập sách này. Trong lần tái bản này, người viết có thêm ba bài về Thiền Sư Chân Nguyên, một Thiền Sư chẳng những quan trọng đối với văn học và tư tưởng của Phật Giáo mà còn quan trọng với cả văn học và tư tưởng của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ thứ XVII nữa. Sau cùng, xin các vị thức giả và bạn đọc thứ lỗi những thiếu sót và sai lầm mà chắc chắn phải có trong tập sách này, dù người viết đã cố gắng hết sức mình. Nha Trang, Mùa xuân Bính Thân, Thích Phước An. *** Lời thưa của người làm sách Thưa tất cả các ông bà, các bác, các dì, cô, chú, anh, chị, bạn bè, con, em, cháu Tôi chỉ xin nói vài lời: Thứ nhất, xin cầu nguyện cho tất cả mọi người trên quê hương đất nước tôi được bình an vượt qua mọi giông bão trong trời đất và cả bên trong mỗi con người đã và đang xảy đến mau chóng hồi sinh tâm trí thiện lương. Thứ hai, tôi vô cùng biết ơn Hòa Thượng Thích Phước An đã viết cuốn sách này và cho phép tôi xuất bản liên tục nay đã lần thứ Tư, chứng tỏ sức sống của một tác phẩm đã đi vào lòng người, dù sớm hay muộn, cũng đã góp phần đánh thức lương tri và tình yêu thương yêu quê hương, đất nước tươi đẹp của chúng ta. Điều mà bất kỳ một người con nước Việt nào cũng đã in sâu tận đáy lòng. Thứ Ba, tôi chỉ muốn nói lời cảm ơn đến tất cả, những người đã đọc sách, đang đọc sách, sẽ đọc sách và trao truyền lại cho con cháu mình tình yêu thiêng liêng này từ tiếng nước Việt mình, giản dị, trong sáng của một vị chân sư đã sống cả cuộc đời ẩn cư trên ngọn đồi nhưng với tấm lòng khôn nguôi trăn trở với quê hương. *** Tác giả Thích Phước An sinh ngày 1 tháng 12 năm 1949 tại xã Cát Tiến, huyện Phù Cát, Tỉnh Bình Định, Việt Nam. Hiện tác giả Thích Phước An đang sống trên đỉnh đồi cao Trại Thủy (thành phố Nha Trang) với hồn thơ “Tự thán” của bậc anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi: Chắc chi thiên hạ đời nay mà đem non nước làm rầy chiêm bao Các tác phẩm đã in: Đức Phật Trên Cõi Phù Du – tái bản lần 3 năm 2022 Đường về núi cũ chùa xưa- Tái bản lần 4 năm 2024 Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng – Xuất bản lần 1 năm 2020 MỤC LỤC Trần Thái Tông và cuộc lên đường tìm kiếm một quê hương vĩnh cửu Tuệ Trung Thượng Sĩ kẻ rong chơi giữa sống và chết Quê hương, ngôi chùa và thiên nhiên trong cõi thơ của Trần Nhân Tông Thiền sư Huyền Quang và con đường trầm lặng của mùa thu Trần Quang Triều người gìn giữ ngôi chùa tâm linh của quê hương Ngày Xuân đọc thơ Trần Minh Tông và suy nghĩ về sự ân hận của một Hoàng đế Phật tử Từ Nguyễn Trãi đến Ngô Thì Nhậm và con đường đi lên đỉnh núi Yên Tử Nhà thơ của “Am mây trắng” thế kỷ XVI có bài bác Phật giáo hay không? Núi Hồng Lĩnh nơi nuôi dưỡng lòng từ bi của thi hào Nguyễn Du Toàn Nhật thiền sư với những nẻo đường cát bụi của quê hương Toàn Nhật thiền sư người muốn đưa tinh thần Phật giáo đời nhà Trần xuống cho triều đại Tây Sơn Bonze Huyen Quang and the Silent Path of Autumn Thông tin bổ sung Trọng lượng 0,51 kg

Tác giả: Lê Mạnh Thát Nhà xuất bản Hồng Đức Phát hành: Thư quán Hương Tích Hình thức: Bìa mềm, có tay gấp Số trang: 2514 Ngày tái bản: 2019 Mô tả Chân Nguyên là một tác gia lớn của nửa sau thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII. Ông đồng thời cũng là một nhà tư tưởng có một số quan điểm đáng lưu ý, đặc biệt trong lĩnh vực lịch sử văn học và tư tưởng Phật giáo tại nước ta. Dẫu thế, cho đến ngày nay những người viết lịch sử văn học cũng như tư tưởng và Phật giáo vẫn tiếp tục bỏ qua tác gia lớn này, dù rằng tác phẩm của ông đã được bàn cãi khá sâu rộng, nhưng cũng khá mập mờ do không nắm vững tác quyền của chúng. Vì thế, cần có một nỗ lực tập hợp và nghiên cứu lại toàn bộ tác phẩm của Chân Nguyên hiện biết nhằm cung cấp những tư liệu chính xác cho những người công tác trong các lĩnh vực văn học, ngôn ngữ, tư tưởng và Phật giáo. Chân Nguyên thiền sư toàn tập I ra đời là để thể hiện nỗ lực ấy. Tập I này gồm toàn bộ những tác phẩm Hán văn, trừ Ngộ đạo nhân duyên, mà chúng tôi hiện chưa có văn bản trong tay, cùng với Thiền tịch phú và Thiền tông bản hạnh. Chân Nguyên thiền sư toàn tập II: công bố những tác phẩm truyện cũng viết bằng quốc âm từ trước tới nay chưa bao giờ được giới thiệu. Thực hiện công trình này chủ yếu là nhờ chúng tôi đã phát hiện ra bản in thế kỷ XIX của các tác phẩm Nam Hải Quan Âm bản hạnh, Đạt na Thái tử hạnh và Hồng mông hạnh. Nói rõ hơn, nhờ tìm được bản in năm Tự Đức thứ 3 (1850) của Nam Hải Quan Âm bản hạnh, bản in năm thứ 19 (1938) của Đạt-na Thái tử hạnh, và bản in “Minh Mạng vạn vạn niên” của Hồng mông hạnh, chúng ta biết Chân Nguyên còn là tác giả thêm ba tác phẩm nữa. Không những thế, vì Nam Hải Quan Âm bản hạnh đã cải biến thành một tác phẩm văn học dân gian phổ biến, xuất hiện dưới tên Đức Phật bà truyện, nên Toàn tập II cũng phiên âm và công bố ở đây, để làm tài liệu nghiên cứu cho những người tìm hiểu văn học dân gian và quá trình biến thành dân gian của những tác phẩm hữu danh. Chân Nguyên thiền sư toàn tập III: Tác phẩm Thiên nam ngữ lục. Từ lâu tác phẩm này được nhận thức là “một gạch nối trung tâm giữa văn thơ nôm thời Nguyễn Bỉnh Khiêm và văn thơ nôm thời Nguyễn Du”. Qua những bản chú thích viết về nó vào thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX, rồi việc một người học trò Bắc Ninh đã nộp bản, để đến năm 1857 thị giảng Trần Dương Quang dâng lên cho vua Tự Đức xem, và năm sau (1858) vua sai Phan Thanh Giản và Phạm Huy chọn người để chữa lại thơ, Thiên nam ngữ lục quả đã nhận được sự quan tâm nhiều mặt của học giới, dân dã và quan phương. Nhưng phải đợi tới giữa thế kỷ XX, những công trình nghiên cứu và phiên âm mới xuất hiện. […] Trích Lời nói đầu Lê Mạnh Thát

Tác giả: Thích Nữ Trí Hải Nhà xuất bản Hồng Đức Ngày xuất bản: 12/2016 Loại bìa: Bìa mềm Số trang: 276 Mô tả Trong hội họa, nhất là tranh thủy mặc, khoảng không trên bức tranh cũng quan trong như những dấu lặng trong âm nhạc. Và đặc biệt trong thi ca, khoảng trống lơ lửng lại càng rất thiết yếu. Cái mà thi nhân nói lên không quan trọng bằng cái ông ta không nói. Không nói mà vẫn làm cho người đọc cảm nhận được, đó mới là tất cả nghệ thuật của nhà thơ. Những vần thơ nói lên được cái nó không nói trở thành rất gần với đạo, và khi đạo và thơ quyện nhau trong một nghệ thuật siêu việt qua trung gian khoảng trống, ta có một nhất thể kỳ tuyệt, vượt hẳn loại văn chương “tải đạo” nặng trịch như… một chiếc xe vận tải hạng nặng, trong đó hồn thơ, nghệ thuật biến mất, nhường chỗ cho kỹ thuật và thuật ngữ rườm rà. Thi nhân chân chính là người bằng nghệ thuật của mình có thể thắp sáng một thế giới rồi lẳng lặng bước ra để cho thơ tự nói, không cần ở đó để mà phân bua giải thích. Emily Dickinson viết: Thi nhân chỉ thắp lên những ngọn đèn Còn chính họ thì bước ra ngoài. (The poets ligth but lamps. Themselves go out)

Tác giả: Thích Nữ Trí Hải Nhà xuất bản Hồng Đức Hình thức: Bìa mềm

Tác giả: Viên Linh Tranh bìa: Hs Thái Tuấn Phụ bản: Trịnh Cung, Chóe, Dominique De Miscault Nhà xuất bản Phương Đông Phát hành: Thư quán Hương Tích Ngày xuất bản: 12/2010 Kích thước: 13×20.5 cm Loại bìa: Bìa mềm, in trên giấy mỹ thuật Số trang: 96 Thư quán ấn hành 2010. Sách mua tại Thư quán được giảm 10%. Mô tả THAY TỰA Lục bát Viên Linh 1. Từ thủa bình minh ấy, khi biển Đông vừa tàn cuộc khói sương, những đợt sóng vỗ bờ, xô nắng mai lên bãi cát, ghi dấu phế hưng của một thời lãng mạn bi hùng; có đoàn người lần theo duyên hải, định hướng chân trời, đâu là phương sinh nhai cho tròn cõi nhân sinh. Không biết tự bao giờ, là thiên mệnh, hay là huyền sử, tôi đọc thơ và yêu thơ từ những chuyện lãng du. Người đi, từng bước để lại phương trời quá khứ, ghi vết tích trên từng dấu chân, để rồi sóng biển xóa nhòa. Ký ức thành mộng tưởng. Khi mà ký ức còn bị vùi lấp trong những lớp bụi mù phố thị, eo xèo tiếng vọng từ hí trường giả dối, lãi nhãi trên những giá trị phù hoa không thực chất; ngôn ngữ nguyên sơ, tiếng khóc từ khi lọt lòng Mẹ, chỉ là âm vang của ma quỷ tranh nhau trong bóng tối. Ta hay người, bỗng chốc lạc loài trong lòng đất Mẹ. Chợt đồng vọng tiếng ru đâu đó, giai điệu u trầm ấp ủ đàn con từ những ngày dựng nước. Đàn con ra đi theo những lớp phong ba của lịch sử quay cuồng, anh em như những người khách lạ, nhìn nhau mà không biết ai đến từ phương nào. Hình đã đổi khác, mà tâm tư cũng thành cách biệt. Chợt nhận ra một nửa hồn mình khi nghe tiếng khóc của người. Tôi đi tìm tiếng khóc còn hồn nhiên, để nghe truyện kể bắt đầu từ những hạt mưa trên đỉnh Trường sơn, đổ xuống bình nguyên mà vào Đông hải. Tiếng khóc chào đời hồn nhiên, bởi tình yêu của Mẹ trong điệu ru sáu tám. Một mai, tiếng khóc trong cõi nhân sinh nhuộm máu quân thù để viết thiên lịch sử quan phương, để xóa nhòa huyến sử, thì trong nguyên ngôn, trong tiếng khóc ban đầu, vẫn là khúc hòa âm của huyền sử được viết bằng thơ. Nghe huyền sử, được kể bằng thơ, để yêu mình và yêu người, để còn nghe đồng vọng tình yêu của Mẹ, từ lòng Đất Mẹ. Mai sau dù có bao giờ… Mai sau, khi ta đi đến cuối, hay gần đến cuối, những đoạn đường khổ lụy lưu đày trong cõi nhân sinh này, đã đơn độc giữa toàn anh em mà như khách lạ này, lúc ấy biết đâu ta cũng tình cờ muốn nhẫm đọc những câu thơ như vầy: Sinh ở đâu mà giạt bốn phương Trăm con cười nói tiếng trăm giòng Ngày mai nếu trở về quê cũ Hy vọng ta còn tiếng khóc chung. (Thủy mộ quan 78) Lời thơ như nửa hận, nửa yêu. Yêu và hận, từ một chân tình diệu vợi: Tình ta một mối tinh câm Nói ra im lặng, âm thầm tiếng vang. (Thủy mộ quan, Ngoại vực ). Buồn vui, yêu hận, loanh quanh trong một kiếp người, của một đời lãng tử, lênh đênh qua mấy ngọn hải triều, để nghe trong ta, một thời xa xưa, Lưu Nguyễn lạc lối đào nguyên mà vẫn mơ màng phố thị, hành trang chỉ là một gói hoài niệm trong bóng điện đường, những chuyến xe đò khuya tạnh: Đêm sâu giữa lũng bò vàng Điện lu phố nghiệp xe dàn bến không. (Hóa thân, Kinh cầu nguyện ) … Thơ lục bát của Viên Linh, bên ngoài khoác y trang nho nhã của Cụ Ôn Như; dịu dàng như, “Biển nằm dỗ mộng thùy dương” (Hóa thân, Ký thác); nhưng bên trong lại cưu mang tâm tình nổi loạn của Rimbaud. Anh không nổi loạn để chống lại trật tự đã sắp đạt sẵn ở đó, mà nổi loạn chống lại cái định mệnh đam mê trong chính mình. Chống lại chính ta, chống lại những xúc cảm bồng bột trong ta, nhà thơ vẫn không thể vượt qua khỏi cái bóng định mệnh của mình. Ở nơi thơ, là một góc nhìn của thế giới, và thời đại; từ đó, để ta nhìn xuyên qua, và nhìn sâu vào, tính thể của tồn tại. Thời đại như bóng câu, đến rồi đi; cái còn đọng lại như là tồn tại của bóng mờ quá khứ. Ngồi trông tóc trắng từng giờ Chân nhang bụi mọc ta thờ một ta. (Hóa thân, Bản thân ) Không phải là bóng mờ đơn độc từ nhân cách của nhà thơ. Tính thể tồn tại được ném vào trong dòng chảy thời gian, như Kiều bị ném vào “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”; nhà thơ bị ném vào cuộc nhân sinh, âm thầm ghi dấu phong ba của thời đại. Thời đại chúng tôi, một phương trời khói lửa, một dân tộc quằn quại nhưng vẫn không mất đi khí phách anh hùng từ thời dựng nước. Khí phách ấy tìm đâu đây trong những lời thơ xót xa thân phận? Phận nào xác ấy cô liêu Chim đêm rủ tóc ngồi kêu đường về (Hóa thân, Buôn Hô ) Từ đây khổ kiếp u hoài Một tôi ngắn phận cho dài thế gian (Hóa thân, Tôi II ) Ai có thể biết ngọn cỏ dại tàn úa bên vệ đường vẫn mang trong nó cả một trời thu? Một lớp thanh niên cùng trang lứa lên đường theo tiếng gọi Núi Sông. Nhà thơ cũng bồn chồn, nửa đêm khoác áo ra đi. Vẫn âm vang câu hỏi nghìn đời, sống và chết, ai còn, ai mất? Bởi những kẻ ra đi không bao giờ trở lại. Bức tranh vân cẩu của thế hệ ấy, của thời đại ấy, cõi nhân sinh ấy, là gì? … Ngõ con bụi đỏ trăm ngày mẹ mang Xương khô gót chị kinh hoàng Kẻng khuya đồn lẻ đêm vàng mấy anh. (Hóa thân, Cõi nhân sinh ) Vậy, phải chăng sinh ra để làm thơ, là một định mệnh? Thời đại và nhân sinh là những trận cuồng phong trên mặt biển, mà từ đáy sâu hun hút, nghìn đời vẫn âm thầm chuyển tải nguyên ngôn của tính thể tồn tại. Ai có thể đào bỏ đi đáy biển, để cho mặt biển nổi sóng? Gạt bỏ đi những lớp phồn hoa của thời đại, dứt đi những sóng gió, bi thương và hùng tráng của một thời, nhà thơ bước đi không ngừng nghỉ, cho dù bị hắt hủi bởi cát bụi từ ngựa xe dồn dập trên đường, đi tìm bóng dáng chân thực của ta và thế giới của quanh ta. Nguyễn Du, trước sau vẫn là bóng mờ bên dòng lịch sử, với câu hỏi trải dài từ thủa hoang sơ: “Trăm năm trong cõi nghười ta.” Cõi người ta, như một thung lũng trong bóng tối đêm sau, cho đàn bò ngơ ngác. Cõi người ta, thành phố điện mờ, mà người bị đẩy vào đó như bởi định mệnh mù quáng, luôn luôn chuẩn bị để lên đường, cho cuộc lữ hành vô định, loanh quanh trên những bến xe hoang vắng. Đâu là thi ca của một phương trời trong một thời đại lịch sử? Đêm sâu giữa lũng bò vàng Điện lu phố nghiệp xe dàn bến không. (Hóa thân, Kinh cầu nguyện ) Thơ – thơ của anh, và của những người cùng thế hệ của anh, vẫn là một góc nhìn, để từ đó ta nhìn vào thế giới, mà sử tính huyền sử bị xóa mờ để được viết lại thành lịch sử. Cuối thu, Canh dần, 2010 Tuệ Sỹ

Tác giả: Tuệ Sỹ Thực hiện: Nguyễn Phước Nguyên, Dominique de Miscault, Bùi Chí Trung, Hạnh Viên, Đào Nguyên Dạ Thảo Trình bày mỹ thuật: Đào Nguyên Dạ Thảo / Culture Art Education Exchange Resource Nhà xuất bản Đà Nẵng Phát hành: Thư quán Hương Tích Hình thức: In màu trên giấy Couché math 115 Số trang: 144 Mua trực tiếp tại Thư Quán được giảm 10% Mô tả THIÊN LÝ ĐỘC HÀNH – Thơ TUỆ SỸ … Từ ta trải áo đường mưa bụi Tưởng thấy tiền thân trên bến không Mưa, nắng, gió, bụi; những bước chân miệt mài đi qua rừng, qua phố, để làm gì, để tìm gì? Tìm gì trong màu hoàng hôn phơi trên hồn đá, cái bóng người xiêu đổ bên bờ lau sậy phất phơ nỗi buồn viễn xứ. Xứ sở nào của người, của đá, của những bông lau bay trắng bốn phương ngàn? Nắng, bụi, gió, mưa. Thiên nhai hà xứ vô phương thảo (*) .Cuối trời vạn nẻo nơi nào mà không có cỏ xanh thơm. Một đứa bé chạy theo dúi vào tay ông ổ bánh ngọt, chỉ tay về ngôi nhà lụp xụp bên vệ đường: Má con biểu đưa cho ông. Cái tình người nó tự nhiên như cỏ non xanh tận chân trời. Cỏ xanh và hoa lau trắng, màu trắng hoang mang cả trời cô lữ. Giữa dòng ngựa xe phố thị hay trước thảo nguyên xanh ngút ngàn, ở đâu cũng có lúc bất chợt cảm thấy lạc loài, thấy tháng ngày hư ảo, ta muốn đi tìm một cái gì đó khác, đo đếm xem khoảng cách bao xa giữa hai bờ mộng thực. Có người đi trong những chiều nắng quái, có kẻ đi trong những giấc mộng khẽ khàng. Ai cũng có lúc bất chợt nhìn đám bụi dưới bước chân đi mà tự hỏi: không biết đó là tha hương, hay là cố quận? (*) 天涯何處無芳草,thơ Tô Đông Pha. [trích phụ bản, “Nối gót thiên lý độc hành” của Hạnh Viên] Sách Năm ngôn ngữ: Việt, Nôm, Anh, Pháp, Nhật. Hương Tích ấn hành mùa Thu 2021. Tái bản 2024

Tác giả: Phạm Công Thiện Phát hành: Thư quán Hương Tích Nhà xuất bản Đà Nẵng Số trang: 186 Khổ sách: 13x20cm Xuất bản: 7/2022 Mô tả Bay Đi Những Cơn Mưa Phùn , xuất bản lần đầu tiên tại Việt Nam sau 1975, Huongtich thực hiện. Sách gồm 11 truyện ngắn của Phạm Công Thiện , Phạm Hoàng in lần đầu 1970. Khi tôi bước vào quán cà phê Feenjon thì trời đổ mưa, đường bên ngoài ướt hết. Người đàn ông và người đàn bà ôm nhau hôn ngay lối đi còn sót lại trong quán cà phê. Tất cả bàn đều ứ người. Mùi thuốc lá ngầy ngầy bay xà vào mũi, có khác gì mùi giấy cũ pha một chút nước mưa trộn lẫn với mùa nóng có người phát thư ban đêm đi qua nhà với tay cầm đuốc đang khi người ta đốt vải rách liệng ra ngoài sân để đuổi tiếng ó ma lai kêu vọng lại từ bên kia rừng cây, bên kia đồi đá? Đà Lạt đang hiện ra giữa quán cà phê đông người vào một buổi chiều mưa Nữu Ước. Tôi đã làm gì cho tôi? Một chút nước mưa, một chút nước biển, một chút đá, một chút ham muốn, một chút đói bụng, đói, đói, đói, đói đủ thứ. Đói cả sự chết, đói cả sự đói, đói óc, đói tim, đói hai ngón tay cái, đói mười ngón tay (quên cắt móng, dính đất đen thui, dơ một cách dễ chịu đựng vô cùng). ____ * Huongtich đặt tựa bài trích. Mục lục BAY ĐI NHỮNG CƠN MƯA PHÙN BAY VỀ MỘT SỢI TÓC MặT TRỜI VẪN CÒN ĐÓ DÙ ĐẾN ĐÂU THÌ CỨ ĐẾN BIỂN XANH TRỘN LẪN VỚI MặT TRỜI THỰC SỰ HÔM NAY TRỜI THÁNG TƯ THẤP THOÁNG BÓNG HUỲNH TRÊN CON SÔNG TÀN BẠO CÒN TUỔI DẠI PHONG LỮ THẢO RỤNG NHIỀU HAY ÍT CON BƯỚM BĂNG QUA ĐẠI DƯƠNG Thông tin bổ sung Trọng lượng 0,3 kg

Tác giả: Trí Hải Nhà xuất bản Hồng Đức Số trang: 145 Hình thức bìa: Bìa mềm Ngày xuất bản: 2020 Mô tả … Thầy ơi! Khi mới vào tu, chúng con chỉ thấy Thầy là một con người bình thường; khi ra hành đạo, chúng con mới thấy Thầy là một đại Bồ-tát. Có lẽ đến khi thành Phật, chúng con mới biết được tường tận Thầy là ai. Trong pháp Đạo sư Du già, chư Tổ Mật Tông có dạy: “Như mặt trời mặt trăng phản chiếu trên hồ nước lặng trong, ân phước chư Phật cũng xuất hiện trong tâm kẻ có lòng tin tuyệt đối vào bậc Thầy … Ánh mặt trời không soi chiếu riêng ai, nhưng chỉ nơi nào có kính hội tụ mới đốt được cỏ khô … Vào thời mạt Pháp, chư Phật hóa hiện dưới hình dạng bậc Thầy tùy theo căn cơ của đệ tử …” Thế cho nên, đệ tử phàm phu chỉ thấy Thầy mình là phàm phu, đệ tử Thanh văn thấy Thầy mình là La- hán, đệ tử tu hạnh Bồ-tát phải thấy Thầy mình như Phật. Chúng con nguyện tu hạnh Bồ-đề, mong đời đời kiếp kiếp giữ mãi đức tin trong sáng này, để lại được gặp minh sư: “ Đã một ngày gần, nguyện xin gần mãi. Theo chân Thầy muôn vạn kiếp, Thầy ơi ” Trích Chân Tâm Bất Hoại

Tác giả: Thích Phước An Nhà xuất bản Phụ Nữ Việt Nam Năm xuất bản: 2022 Kích thước bao bì 20.5 x 13 x 0.8 cm Số trang: 328 Mô tả Đức Phật Trên Cõi Phù Du Những ngày này, chúng ta tích cực làm việc để tiếp tục guồng quay của cuộc sống. Thời của Đức Phật cũng có dịch bệnh lớn gây cho nhân loại nhiều đau khổ khiến người đã có hành động trợ giúp. Dịch Covid-19 đã tạm lắng, mỗi người đều có những trải nghiệm riêng và thêm thấu hiểu cuộc đời. Đi ngược dòng thời gian, những chuyến rời khỏi cung vàng điện ngọc đã giúp chàng thanh niên – tuổi trẻ của Đức Phật gợn lên những câu hỏi lớn về nỗi khổ của con người. Đi tìm lời giải đáp cho chúng, thôi thúc thái tử dấn thân vào một hành trình mà người đã bắt đầu trong vô lượng kiếp trước đó. Cuộc đời – cõi phù du với Đức Phật trước khi người trở thành bậc giác ngộ hay với mỗi chúng ta đều đúng bản chất như vậy, thật khó nắm bắt dù là một thành kiếp hay hoại kiếp. Trong hạn định ngày tháng trước khi Đức Phật nhập Niết bàn, người vẫn giẫm đôi chân trần trên nền đất thế gian sau quyết định nhẹ nhàng trút bỏ cung vàng điện ngọc. Có lúc trên đường khất thực người nói không với một tha nhân (Bà La Môn K…) chỉ chịu dâng cúng khi được giảng ngài đã “cày và bừa” như thế nào: “Lòng tin là hạt giống/ Khổ hạnh là cơn mưa/ Trí tuệ đối với Ta/ Là ách và lưỡi cày.” ; tha nhân ấy đã thay đổi và quyết định dâng cháo và sữa đặc trong một cái bát đồng lớn nhưng tôn giả Gotama từ chối bởi “Ta không hưởng vật dụng/ Do tụng kệ đem lại/ Đây không phải là Pháp…” . Mỗi chúng ta thường tự tin vào cái mình có (sức khỏe, của cải, thân hữu…) và do đó chằng buộc tấm vải vô minh bịt mắt tâm trí như người Bà La Môn K… kia, hãy cứ nắm giữ nếu có thể nhưng lựa chọn he hé đôi mắt khỏi tấm vải tự cột ấy, biết đâu ta sẽ bước vào một hành trình mới, đón nhận hạnh phúc và tạo dựng thêm niềm vui, lòng yêu thương. Đức Phật trên cõi phù du khởi đầu với Thích Phước An từ những ngày xa xưa, khi ông còn là một chú tiểu nương nhờ cửa Phật – ngôi chùa quê hẻo lánh với người trụ trì là sư chú của ông làm trụ trì. Ngôi chùa làng dưới chân núi ấy đã được khai lập từ đời ông Sơ của tác giả, vốn quyết định “âm thầm về lại làng xưa, một mình lặng lẽ vào sâu trong chân núi dựng thảo am để tu trì”. Đức Phật khi tại thế rất chú trọng đến sự tĩnh lặng, người tìm đến rừng cây, giác ngộ dưới cội cây và trong suốt thời gian thuyết Pháp, khai mở cho đồ đệ có duyên. Ra đi từ tuổi trẻ để tìm thấy con đường giác ngộ và Đức Phật cùng giáo lý của ngài đã thổi sạch bụi bặm trong tầm nhìn, tuệ giác của bao người trẻ tuổi đồng thời như Lại Tra Hòa La, Phất Ca Sa Lợi hay chàng trai trẻ bình thường Thiện Sinh. Tất cả nói lên một điều, Đức Phật luôn bình đẳng trong giao tiếp với tha nhân, khi có duyên hội. Tuổi trẻ thường có dự phóng lớn và nếu biết tránh những cạm bẫy tham đắm, rời xa bốn loại bạn chỉ “xúi việc bài bạc”, “rong chơi không phải thời”, “xúi uống rượu”, “thân cận bạn ác” để đồng hành cùng những bạn lành “cùng chịu khổ vui”, “thương tưởng”, “khuyên điều lợi”, “giúp đỡ” thì có thể thành tựu trong kiếp đang sống. Bài Đức Phật với những người trẻ tuổi trong kinh A Hàm nhắc câu chuyện giữa Đức Phật và vua Câu Lao Bà, đôi dòng liên tưởng giữa Câu chuyện dòng sông của Hermann Hesse, nhận định tác giả của hình tượng Siddhartha đã đọc qua Trung A Hàm đã soi chiếu nhiều cho người trẻ khi lựa chọn lẽ sống cuộc đời. Thích Phước An đã bắt đầu trang sách cho bạn đọc bằng mối liên hệ bằng hữu giữa ông và Bùi Giáng trong một ngày tháng xa lơ nào, mấy trang giấy nhắc lại hình ảnh “Cố quận” bùi ngùi cõi đời trôi nổi, phiêu bạt – “thế gian”. Rất nhiều người đã lý giải cõi đời và những thống khổ có thể nhìn thấy hoặc ẩn sâu trong suy tư nhưng có lẽ bước ngoặc lớn lao nằm ở quyết định của Đức Phật, “khi Phạm Thiên Sahampati thỉnh đến lần thứ ba thì Đức Phật mới dùng con mắt trí tuệ của mình quan sát thế gian” và ngài dùng hình ảnh so sánh con người với hoa sen, khác biệt nhiều nhưng vẫn luôn vươn lên dù “cùng ở dưới bùn” mà “vươn lên được rồi thì không hề dính bùn nhơ”. Rabindranath Tagore – thi nhân đi tìm vô hạn trong vòng tay của bà mẹ cát bụi là tiêu đề bài viết tác giả nhắc đến một nhà thơ luôn muốn vươn đến “vô hạn ngay ở kiếp này”, bởi “vô hạn là vấn đề sống chết”. Trên hành trình với ngôn từ và thi ca ấy, Tagore đã thấy lề lối giáo dục tốt nhất còn giúp con người hòa nhập với vạn vật, bởi chính điều này nằm trong giáo pháp của Đức Phật, giúp con người thoát ra khỏi ràng buộc khổ đau. Xuất gia từ rất sớm, tác giả Thích Phước An đã đi một đoạn dài trên “cõi phù du” với niềm say mê Phật pháp, lúc lững lờ như “đám mây trắng trên mái chùa xưa” trong tâm tưởng, hay một biểu tượng của thế giới tâm linh như rặng Hy Mã Lạp Sơn, đặt cạnh “con đường thôn dã của quê hương”. Hành trình ấy vẫn tiếp nối trên những trang sách Đức Phật trên cõi phù du – nhẹ nhàng hướng về bạn đọc. Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam xin trân trọng giới thiệu! Tác giả: Thích Phước An Sinh năm 1949 tại Bình Định Từng học tại Phật Học viện Trung phần Hải Đức. Hiện đang tu tập tại chùa Hải Đức (đồi Trại Thủy, thành phố Nha Trang) Sách đã xuất bản: Đường về núi cũ chùa xưa (2018) Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng (2020)

Mô tả Ai đẩy Thuý Kiều vào lầu xanh? Ai xô Alissa vào khung cửa hẹp? Định mệnh hay nghi ngẫu? Hoàn cảnh xã hội, tư tưởng tôn giáo, hay ý thức quyết tuyển tự do của con người, hay tâm thức của thiên tài sáng tác? Hay mọi thứ đó phối hợp? Ta tạm nói theo lối hồ đồ: chính Nguyễn Du đã đẩy Kiều vào lầu xanh; chính Gide đã xô Alissa vào khung cửa hẹp. Để làm gì? Vào phong trần, Thuý Kiều té sấp ngửa, mình mẩy đầy bụi, xiêm áo đảo điên, bị tước đoạt mọi quyền sống, chính khi đó Nguyễn Du lại đề huề đưa đức lý công thức ra khuyên giải; nhưng tại sao trong lời tương nhượng ôn tồn, bỗng dưng toàn thể vấn đề tư tưởng được đặt trở lại với xã hội Á Đông? Bước vào khung cửa hẹp băng tuyết, nằm chết lạnh giữa niềm trinh bạch cóng giá chơi vơi, tiếng than dài của Alissa bỗng báo hiệu cho xã hội Tây Phương biết rằng họ đã sống dở chết dở, suốt hai nghìn năm. Nghĩa là kể từ ngày những tiếng nói dậy từ nguồn sống thiên thu bị nhân gian hiểu theo lối hẹp hòi công thức. Đứng ở bình diện tư tưởng khác, chúng ta lại còn nghe ra ngôn ngữ hư vô bàng bạc. Gide cũng như Nguyễn Du đều suy tưởng lẽ hư vô đến tột vời, vàcònđixa hơn 1 hơn những thiên tài như Neitzsche, nhìn thấy chân trời phối hợp của hư vô và vĩnh thể, bắt gặp Lão Tử, Thích Ca, Perménide, Homère aède Hy-Lạp và người dân quê Việt Nam. Gió đưa cơn buồn ngủ lên bờ Nhà khung cửa hẹp có ai ngờ chi không? Và lời tựa đến đây chưa có kết thúc. Tuy nhiên, cũng có thể kết thúc bằng lục bát thạch lựu mùa hè: Lựu hoa đầu ngõ lập lòe Dưới hoa quyên đã gọi hè thế ru Trong hoa phát tiết sa mù Mùa dâng nhị bội sương phù du tuôn. Bùi Giáng Về tác giả Tiểu sử André Gide: 1869 : sinh ra đời tại Paris. 1891 : gặp Mallarmé lần đầu 1893 : sang Bắc Phi 1895 : cưới cô em họ Madeleine Rondeaux, một người đàn bà có tính chất giống nhân vật Alissa trong La Porte Étroite. 1926-1927 : du lịch qua Congo. 1936 : du lịch qua Nga. 1938 : Madeleine Rondeaux qua đời. 1942 : sang Bắc Phi. 1947 : nhận giải Nobel. 1951 : mất tại Paris.

Mô tả “… Lý Bạch, tiên tài, cho một thế giới thần tiên, ngoài cuộc thế. Đỗ Phủ, nhân tài, giữa những người cùng khốn. Lý Hạ, quỷ tài, cho những oan hồn chứa đầy u hận, hay chỉ là xảo thuật ma quái của vần điệu? Cũng có thể, quỷ tài được hiểu như là một thiên tài quái dị, mà ngôn ngữ được sử dụng trên mức độ ma thuật, ngụy quyệt. Đó là tư chất thiên phú, với những tưởng tượng đầy tính siêu thực. Sử dụng thi ca y như thủ pháp ma thuật không phải chỉ là một kỹ xảo. Đằng sau từ điệu huyễn hoặc còn ẩn chứa một thế giới huyễn hoặc; thế giới của thần mộng và cô liêu, có thể gọi như vậy. Trong tận cùng sâu thẳm đó là gì; có lẽ chúng ta không thể tìm đến chỉ do sự thúc đẩy của bản tính hiếu kỳ, mà phải đến bằng tất cả những lời kêu gọi thống thiết của định mệnh nhân sinh”. | TUỆ SỸ

Nhà xuất bản: Văn Học Tác giả: Bùi Giáng Năm xuất bản: 2023 Hình thức: Bìa mềm Khổ sách: 13,5×20,5 cm Số trang: 210 trang Mô tả “Em sẽ khóc khi nhìn trong khóe mắt Thấy một mình người đi lại lang thang Còn ghì giữ ân tình trong cỏ nhặt Múa vi vu vì hẹn với truông ngàn.” Bùi Giáng (1926-1998), là nhà thơ, dịch giả và là nhà nghiên cứu văn học. Các bút danh khác của ông: Trung niên thi sỹ, Thi sỹ, Bùi Bàn Dúi, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng…

NHỮNG ĐIỆP KHÚC CHO DƯƠNG CẦM Tập sách đầu tiên của Tác giả được cấp phép in sau 1975. Dịch Pháp ngữ Dominique De Miscault và minh họa mỹ thuật của Dịch giả. Sách ra mắt năm 2009 tại Ks Legend, Q.1, với sự giới thiệu của Gs, Ts Trần Văn Khê, ngâm thơ và trình tấu Piano của các nghệ sĩ thân hữu… Tái bản sau 15 năm, 2024. Bổ sung bài cảm tưởng của Mme. De Miscault nhân tái bản và bài giới thiệu của Cố Gs, Ts Trần Văn Khê. Sách in màu trên giấy mỹ thuật.

Tác giả: Erich Fromm Dịch giả: Thích Nữ Trí Hải Nhà xuất bản Đà Nẵng Số trang: 192 Hình thức bìa: Bìa mềm Ngày xuất bản: 04/2023 Mô tả Khoa Tâm phân học sau Freud đã chứng kiến một cảnh “trăm hoa đua nở” vô cùng phong phú. Những trường phái tâm phân, nhằm khai thác các thành quả và chiều hướng cốt yếu trong tư tưởng của Freud, lần lượt xuất hiện và xác định vị trí của mình tuỳ như lập trường của những trường phái ấy thuận hợp hay chống đối với lập trường của người khai sinh ra khoa học này. Erich Fromm, tác giả người Đức lai Mỹ của tập sách, chiếm một địa vị độc đáo trong trường phái tâm phân mệnh danh là Tâm phân học hiện sinh hay nhân bản. Như thế không phải vì ông là người đầu tiên đã nêu lên nghi vấn về tính cách phổ quát của phức cảm Oedipe, cũng không phải vì ông đã đưa ra ánh sáng mối liên hệ giữa cá nhân với xã hội và nhiên giới để điều chỉnh lại quan niệm cá nhân cô lập của Freud, nhưng chính vì ông đã nhấn mạnh trên quyền lực vô song của con người trong việc giải đáp những vấn đề chính yếu do cuộc hiện sinh đặt ra. Trung tâm điểm tư tưởng Fromm là mối bận tâm tối hậu của con người, sao cho mình có thể sống đích thực với chính mình, sống trong sự giải thoát toàn diện khỏi những áp chế của bất cứ thế lực thần quyền hay nhân quyền nào, và sống trong sự triển nở toàn diện những khả năng vô tận của mình. Chủ đề ấy xoáy sâu và tỏa rộng trong tất cả những tác phẩm của ông: Escape from Freedom (1941), Man for Himself (1947), Psychoanalysis and Religion (1950), và mới đây, trong cuốn The same society . Qua tác phẩm Tâm phân học và Tôn giáo, Fromm muốn nối tiếp và làm sinh động lại cái truyền thống đã khởi nguyên từ thời Platon, trong đó nhà tâm lý học hay nói hẹp hơn, nhà tâm phân là một “Y sĩ của Linh hồn”. Tiền đề nền tảng của Fromm: Người ta không thể xâm phạm đến sự nguyên vẹn tri thức và tinh thần mà không phương hại đến toàn thể nhân cách, đã được sử dụng như một viên đá thử vàng. Sau cuộc thử lửa, những tôn giáo đặt nền trên thần quyền đều bị khước từ vì vĩnh viễn trói buộc con người vào tinh thần nô lệ. Chỉ những tôn giáo nhân bản, những tôn giáo xác quyết và đề cao sức mạnh tinh thần đích thực của con người trong nhiệm vụ giải phóng cho chính mình (trong đó Phật giáo là hình ảnh rực rỡ nhất vì đã đáp ứng đúng những yêu sách nói trên) mới được chấp nhận. Những phân tích về tâm trạng “tôn thờ thần tượng” của Fromm xui ta nhớ đến khuôn mặt yêu dấu của Simone Weil khi cô biện giải về quan niệm thiện ác. Đây là một trong những tác phẩm hiếm hoi đề cập đến một vấn đề rất táo bạo và mới mẻ, với một tinh thần không bị che phủ vì thiên kiến. Vì thế, nếu trên bình diện thực nghiệm, chúng ta có thể tìm ra các chứng lý vạch rõ những bất toàn của đề án Fromm đưa ra, thì trái lại, xét về phương diện những đóng góp mới cho khoa Tâm phân học, lập trường của Fromm phải được chiêm nghiệm một cách sâu xa và nghiêm chỉnh. – Ban Tu thư Vạn Hạnh , trong lần in bản dịch Việt ngữ năm 1968 Lời tựa của tác giả Khi viết một lời tựa mới cho một quyển sách đã được xuất bản cách đây mười sáu năm, trước tiên tác giả phải tự hỏi, liệu mình có muốn sửa lại các luận điểm quan trọng mà bây giờ xem chừng đã không còn đúng nữa không. Trong suốt những năm qua, do các ý tưởng của tôi vẫn thay đổi liên tục, và tôi mong là thay đổi theo chiều hướng tích cực, nên tôi đã sẵn sàng đọc lại quyển sách này để tìm ra vài lời lẽ mà tôi có thể muốn thay đổi. Tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy mình không cần phải thay đổi bất cứ nội dung nào trong các luận điểm chính yếu, và dĩ nhiên cũng không phản đối việc in lại quyển sách này. Câu hỏi tiếp theo tác giả cần tự hỏi là liệu mình có nên bàn thêm những nội dung đã viết nhiều năm về trước không. Câu trả lời chắc chắn là có. Trong bản in trước, tôi đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân biệt khái niệm tư tưởng tôn giáo với kinh nghiệm nhân bản ẩn dưới đó. Nhưng tôi lại chưa làm rõ thế nào mới được gọi là “kinh nghiệm tôn giáo”, dù cho khái niệm tư tưởng tôn giáo có hàm ý bất cứ điều gì. Giả như lúc này tôi phải viết lại quyển sách này, tôi hẳn sẽ thêm chương “Vài điển hình về kinh nghiệm tôn giáo”. Nhưng đây chưa phải lúc. Tuy nhiên, có điểm này tôi cần phải nhắc đến: đối với người có tôn giáo, dù y là “tín hữu” hay không, thì cuộc sống mới chính là vấn đề; nội chuyện được sinh ra trong cõi đời này thôi đã đặt ra một câu hỏi mà con người buộc phải tìm cho ra câu trả lời. Do đó, nhiệm vụ trọng yếu trong đời y là tìm thấy câu trả lời thỏa đáp câu hỏi ấy; không phải tìm ra trong tư tưởng mà thôi, mà phải trong toàn bộ hiện hữu của y, trong chính lối sống của y. Đối với người có tôn giáo, cuộc sống không phải là thứ “được ban cho”, chẳng có ý nghĩa nào khác ngoài chuyện ăn uống, sống còn, vui chơi, và tham gia các sự kiện phù hợp với các ý niệm đạo đức của y. Y cảm nhận được sự lưỡng phân hiện sinh sâu sắc đang phủ bóng trên cuộc sống: đó là được tự do, nhưng vẫn bị khuôn định; là tách rời, nhưng vẫn hợp nhất; là có đầy kiến thức, nhưng vẫn hoàn toàn dốt nát. Y phải chịu đau đớn khổ sở do cảm giác bị tách biệt. Hành động y hướng thẳng đến việc tìm cho ra giải pháp tối ưu cho các mâu thuẫn trên, dù ngay khi ấy y vẫn biết rõ chẳng có thứ giải pháp nào như thế; nhưng nếu không nỗ lực làm chuyện đó thì đời cũng thành ra vô nghĩa. Trong thực tế, chính điểm này đã tạo ra sự khác biệt giữa một bên là con người đạo đức và khoái lạc, với một bên là con người “có tôn giáo”. Thay vì mềm lòng mà tiếp tục trình bày các ý tưởng về bản tính của kinh nghiệm tôn giáo, mà dù nó có đúng thì cũng vẫn còn thiếu sót, tôi sẽ chú tâm đến một hiện tượng xem ra sẽ làm cho vấn đề trở nên phù hợp một cách cụ thể với thời đại chúng ta. Hiện tượng tôi muốn nói đến chính là cuộc phục hưng nhân bản đang diễn ra trong giáo hội Công giáo La Mã và các nhánh Thệ Phản. Phong trào này, được giáo hoàng John XXIII khuyến khích, đã dẫn đến một cuộc đối thoại mới, không chỉ giữa các tín hữu Công giáo với các tín hữu Thệ Phản, mà còn giữa các nhà nhân bản hữu thần với giới nhân bản vô thần. Cuộc đối thoại này không đặt nền trên chuyện các bên phải từ bỏ các khái niệm tư tưởng hữu thần hay vô thần của mình. Nhưng nó ngụ ý các bên phải thừa nhận rằng, ngoài những gì con người ý thức được thì vẫn còn tồn tại chiều kích khác – là những gì con người cảm nhận. Kinh nghiệm nội tâm này hầu như không thể được diễn tả bằng lời, nhưng bất cứ ai đã có được kinh nghiệm này đều biết rằng cái họ cùng có còn nhiều hơn cả cái chia cách họ do các khác biệt trong tư tưởng. Teilhard de Chardin, Hans Kung và Karl Rahner chỉ là một số ít giữa những người đại diện cho chủ nghĩa nhân bản tiến bộ này. Sự phát triển tương tự cũng diễn ra giữa lòng các nhóm Thệ Phản dưới một hình thức còn triệt để hơn. Lập trường ấy trong mấy năm gần đây đã được nhiều người nhìn nhận dưới khái niệm “Ki-tô giáo vô thần”. Dietrich Bonnhoefer, Karl Bultmann, và còn có cả Paul Tillich, là những cái tên đại diện cho chủ nghĩa nhân bản cấp tiến trong các nhánh Thệ Phản. Có lẽ không gì có thể biểu đạt được tinh thần loại chủ nghĩa nhân bản này tốt hơn câu nói sau đây của Abbé Pire: “Điều quan trọng không phải là sự khác biệt giữa kẻ tin và kẻ không tin, mà là giữa người quan tâm và người không quan tâm”. Thành phố Mexico, Tháng Ba năm 1967 Erich Fromm Mục lục LỜI GIỚI THIỆU LỜI TỰA I LỜI TỰA II Chương 1: VẤN ĐỀ Chương 2: FREUD VÀ JUNG Chương 3: PHÂN TÍCH VÀI ĐIỂN HÌNH KINH NGHIỆM TÔN GIÁO Chương 4: NHÀ TÂM PHÂN HỌC NHƯ MỘT “Y SĨ CỦA LINH HỒN” Chương 5: TÂM PHÂN HỌC LÀ MỘT ĐE DỌA CHO TÔN GIÁO? Thông tin bổ sung Trọng lượng 0,3 kg

Tên sách : Trần Nhân Tông A biographical study Tác giả : Lê Mạnh Thát Dịch giả : Đạo Sinh Ngôn ngữ : Anh Số trang : 346 Nhà xuất bản : Tổng Hợp TP. HCM Năm xuất bản : 2006 Phân loại : Sách tiếng Anh-English Mô tả TRẦN NHÂN TÔNG A BIOGRAPHICAL STUDY Lê Mạnh Thát Translated from Vietnamese by Đạo Sinh NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP TP. HỒ CHÍ MINH PL.2550 – 2006 Vạn Hạnh Monastery Preface The Emperor Nhân Tông of the Trần dynasty is a national hero who made great contributions to the history of Vietnam in various aspects. It was under his leadership that the Vietnamese people could reach their zenith of the age. Together with most gifted military strategists he was capable of motivating their potential strength for defeating the most ferocious and veteran Mongolian army of the time in such glorious battles as Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng, and Tây Kết. The Emperor also succeeded in extending the country’s boundaries, laying a strong foundation for the people’s common cause of ‘marching southward’ – a cause that the Vietnamese will always remember with gratitude. Furthermore, two greatly significant developments occurred in Vietnamese culture during his reign. The first is the usage of the Vietnamese language together with Chinese as the official scripts of the imperial court. In the earlier dynasties the Vietnamese language must have been used to some extent, yet this fact had not been proven by any documentary evidence until his reign of Nhân Tông. It may be said that the formal usage of Vietnamese during his reign resulted in the appearance of a series of literary works composed in Vietnamese such as the Tiều Ân Quốc Ngữ Thi Tập by Chu Văn An; a translation of the Shih Ching by Hồ Quí Ly; poems of Nguyễn Biểu and Trần Trùng Quang, a Buddhist monk of the An Quốc Temple; notably, the Quốc Âm Thi Tập by Nguyễn Trãi; and the earliest Vietnamese translations of Buddhist texts Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng and Phật Thuyết Báo Phụ Mẫu Ân Trọng , which are said to have been carried out by Zen Master Viên Thái are extant today. The second is that the Emperor himself founded a new line of development of the Zen school, namely, the Trúc Lâm Yên Tử, holding that the Way to enlightenment may be cultivated peacefully right in worldly life. Accordingly, under the reign of Nhân Tông, there occurred many great and inter-related events in political, military and cultural aspects: the double victory over Mongol-Yuan invaders, the annexation of the two districts Ô and Lý to the country’s territory, the usage of Vietnamese, together with Chinese, as the official written language; and eventually, new developments in thought. Thus it was within the context of these events that the Trúc Lâm Zen school came into being with its historical missions of laying the foundation development of Vietnamese Buddhist in the centuries that followed, and setting forth the cause of Vietnamese southward expansion in the same period. It is not quite by chance that the First Patriarch of the Thảo Đường Zen school, i.e., the Emperor Lý Thánh Tông, had begun the same cause in 1069, that the Emperor Nhân Tông went on to lay the foundation for it by establishing the two districts Thuận and Hóa, and that the Bodhisattva-in-Precepts Hưng Long Nguyễn Phúc Chu gave the order for General Nguyễn Hữu Cảnh to build the city of Saigon and develop the South into an integral part of Vietnam nearly 400 years later. Behind all of these achievements by such talented and energetic sons of the Fatherland there must be some philosophical foundation which may be studied in the poem “Cư Trần Lạc Đạo” (Worldly Life with Joy in the Way) by the Emperor Nhân Tông. For, being originally preserved in the monasteries of the Trúc Lâm School, it may be employed for intensive study of its strategic and statecraft implications. So great was the Emperor’s political and military career that it has been extolled and appreciated over seven hundred years by his contemporaries such as Trương Hán Siêu, Trần Minh Tông, Phạm Sư Mạnh and hose in subsequent generations such as Nguyễn Trãi, Ngô Sỹ Liên, Lê Quí Đôn, Ngô Thì Nhiệm, and so on. And his literary works, too, have been gradually collected in the Việt Âm Thi Tập , the Toàn Việt Thi Lục , the Tam Tổ Thực lục , etc. The collections, however, have not been satisfactory so far. All of the diplomatic correspondence submitted to the Yuan court by the Emperor, for instance, has not been completely collected and published. At least among the possible accounts preserved hitherto. We, therefore, propose so study once more the military and political career and literary works that the Emperor Nhân Tông has left for us. So, the book now in his reader’s hands is an embodiment for such an intention. This book consists of ten chapters and generally deals with his political and military career describes the events of his youth up to his roles in the two wars of 1285 and 1288; the extension of the country’s territory; the usage of the Vietnamese language; and the foundation of the Trúc Lâm Yên Tử Zen School. Vạn Hạnh Monastery The 9th of the 9th month of Lunar Year Kỷ Mão (1999) Lê Mạnh Thát

Tác giả: Pháp sư Huyền Trang Dịch Việt: HT. Thích Như Điển – Nguyễn Minh Tiến NXB: Đà Nẵng Số trang: 551 Hình thức bìa: Bìa cứng Phát hành: 05/2022, tái bản T11/2023 Mô tả Sách Tây Vực Ký . Pháp sư Huyền Trang soạn, Hòa Thượng Thích Như Điển và Nguyễn Minh Tiến dịch Việt ngữ. Hội Đồng Hoằng Pháp xuất bản và phát hành trên mạng toàn cầu Amazon quý I/2022. NXB Đà Nẵng xuất bản tại Việt Nam quý II/2022. Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ LỜI GIỚI THIỆU I. Pháp sư họ Trần 陳, tục danh Y hoặc Huy 禕. Từ Hán 禕, theo từ điển Khang Hy , phát âm theo Đường vận , đọc là Huy 【唐韻】許歸切; phát âm theo Tập vận , đọc là Y 【集韻】【韻會】吁韋切. Tập vận , từ điển phát âm được biên soạn dưới thời Tống Nhân Tông niên hiệu Cảnh Hựu thứ 4 (1039). Đường vận được biên soạn thời nhà Đường, khoảng sau năm 733 hay 751 TL. Pháp sư sinh vào thời nhà Đường, vậy tục danh của Pháp sư đọc là Trần Huy. Sau khi xuất gia, Pháp danh của ngài là Huyền Trang, hay Huyền Tráng 玄奘. Ta quen đọc là Huyền Trang, nhưng theo phiên âm Bắc kinh hiện tại, đọc là Xuán Zàng (âm trắc), phát âm đúng là Huyền Tráng. Cho đến triều Thanh, do kỵ húy vua Khang Hy, 玄奘 được viết thay bằng 元奘, như trong Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh sự quán giải được viết bởi Sa-môn Tục Pháp 沙門續法 dưới triều Khang Hy. Nhiều tên khác như Vương Huyền Sách 王玄策 được viết thay bằng Vương Nguyên Sách 王元策, Phòng Huyền Linh 房玄齡 bằng Phòng Nguyên Linh 房元齡. Các học giả phương Tây đầu tiên nghiên cứu và phiên dịch Đại Đường Tây vực ký (Thomas Watters, On Yuan Chwang’s Travels in India , 1904) cho rằng hai từ 玄 hay 元 có thể phát âm như nhau vào thời nhà Đường. Ý kiến này khả dĩ có lý, nếu theo cách phát âm của người Nhật, như 玄奘 Huyền Tráng phát âm là げんじょう(genjō), 玄昉 Huyền Phưởng phát âm là げんぼう(genbō), 道元 Đạo Nguyên đọc là どうげん(dōgen), 隱元 Ẩn Nguyên đọc là いんげん(ingen). W. F. Mayers ( The Chinese Readers’ Manual , 1910) cho rằng 玄奘 nguyên viết là 元奘 nhưng vì kỵ húy mà đổi thành; do đó trong mục từ 962 ông phiên âm Yüan Chwang , đọc theo âm Hán Việt là Nguyên Tráng thay vì Huyền Tráng. T. W. Rhys Davids, người sáng lập Pāḷi Text Society và cũng là dịch giả nhiều Thánh điển Pāli sang tiếng Anh, cùng với S. W. Bushell biên tập và cho ấn hành tác phẩm On Yuan Chwang (1904) của Thomas Watters (1840-1901), đã dẫn ra ít nhất có 6 phiên âm La-tinh khác nhau về từ 玄奘 của những nhà nghiên cứu phương Tây đầu tiên: 1. M. Stanislas Julien Hiouen Tshang. 2. Mr. Mayers Huan Chwang. 3. Mr. Wylie Yuén Chwàng. 4. Mr. Beal Hiuen Tsiang. 5. Prof. Legge Hsüan Chwang. 6. Prof. Bunyiu Nanjio Hhüen Kwân. Chúng ta chỉ biết những phiên âm La-tinh này trên giấy nên không rõ thực tế phát âm như thế nào. Để giải thích rõ những phiên âm khác nhau này, Rhys Davids dẫn lời của Thomas Francis Wade (1818-1895), nhà ngoại giao và Hán học. Thomas Wade cùng với Herbert Giles biên soạn hệ thống La-tinh hóa cho phát âm quan thoại gọi là hệ thống phiên âm La-tinh Wade-Giles được Giles hoàn thành với quyển từ điển Chinese-English Dictionary (1892). Theo giải thích của Thomas Wade, danh hiệu của Huyền Tráng được viết dưới hai dạng (1) 玄奘 và (2) 元奘. Phát âm theo giọng Bắc kinh đương thời, ông phiên âm (1) hsüan chuang và (2) yüan chuang , và phiên âm này cũng được Dr. Legge chấp nhận. James Legge (k. 1815- 1897) được xem là nhà Hán học lớn và nổi tiếng với sự phiên dịch chú giải văn học cổ điển Trung hoa, do rất có thẩm quyền về lãnh vực này nên được dẫn chứng ở đây. Hai dạng nêu trên người Pháp phiên âm (1) hiouen thsang , (2) youan thsang , theo hệ phiên âm của đoàn Truyền giáo La-mã (Romish Missionaries). Rhys Davids có vẻ tán thành lối phiên âm của Stanislas Julien vì bản dịch tiếng Pháp Đại Đường Tây vực ký của Julien ( Mémoires sur les contrées occidentales, par Hiouen- Thsang , éd.1857) rất nổi tiếng và có uy tín. Âm H trong phiên âm của Julien trong tiếng Pháp thực tiễn là âm câm, do đó Hiouen đọc như là Iouen , và có thể được viết là Yuan theo hệ phiên âm khoa học được chấp nhận trong tất cả các hệ ngôn ngữ phương Đông. Thêm nữa, Watters ( On Yuan Chwang , p.6, n.2) nói rằng trong các bản văn Tạng ngữ, 玄奘 được phiên âm là T’ang Ssen-tsang hay T’ang Sin (hay Sang ). Đây có lẽ là phiên âm la-tinh từ ཐང་ཟན་ཙང་ (Wylie: Thang zan tsang), từ được tìm thấy trong 藏漢大辭典 ( Bod rgya tshig mdzod chen mo , 1978). Ông cho rằng Ssen-ts’ang là lối phát âm hay phiên âm Tạng ngữ tương đương phiên âm La-tinh Hsüan-ts’ang . Mặc dù các học giả phương Tây theo phát âm bản địa của mình mà có những phiên âm khác nhau, nhưng ngày nay theo tiêu chuẩn phiên âm Bắc kinh, danh hiệu của Pháp sư được ghi là Xuan Zang . Âm Hán Việt của người Việt từ trước vẫn đọc là Huyền Trang, có khi đọc là Huyền Tráng. Tiểu truyện Pháp sư được ghi chép đầy đủ, được ấn hành trong Đại Chánh tạng với tiêu đề 大唐大慈恩寺三藏法師傳 – 沙門慧立本釋彥 悰箋 Đại Đường Đại Từ ân tự Tam tạng Pháp sư truyện , bản gốc bởi Huệ Lập, bổ sung bởi Thích Ngạn Tông. Chi tiết về cuộc đời của Ngạn Tông được ghi chép trong Tống Cao tăng truyện , quyển 4, rất vắn tắt: “Không rõ quê quán, cuối niên hiệu Trinh Quán, khoảng những năm trước 649, lên Kinh, cầu Pháp làm môn nhân của Tam tạng Pháp sư; tài không bằng Phổ Quang, Bảo Thái, nhưng kiến thức rộng rãi, thông suốt Huyền học, Nho học.” Phần tiếp theo, chỉ phỏng theo bài tựa của chính Ngạn Tông viết cho Đại Đường Đại Từ ân tự Tam tạng Pháp sư truyện (sẽ viết gọn là Pháp sư truyện ), mà bản gốc viết bởi Huệ Lập, và Ngạn Tông là người bổ sung. Trong khi Ngạn Tông sinh vào cuối thời Trinh Quán (khoảng 627 – 649) thì Huệ Lập 慧立 sinh khoảng 615. Có lẽ đây là khoảng thời gian mà, vào năm Trinh Quán 19 (645) Huệ Lập là một trong số 9 người được vua chọn để hỗ trợ Huyền Trang bắt đầu sự nghiệp phiên dịch từ chùa Hoằng Phước. Tống Cao tăng truyện , quyển 17, chép khá đầy đủ về Huệ Lập, nhân cách cũng như tài năng. Nguyên tên Tử Lập子立, vua Cao Tông đổi lại là Huệ Lập, chữ Hán viết là 慧, cũng viết là 惠. Cả hai từ này, Khang Hy phát âm giống nhau: 【唐韻】【集韻】【正韻】胡桂切, 音惠, phiên âm chuẩn Bắc kinh là hui . Bẩm tính thông minh, năm 15 tuổi (Trinh Quán thứ 3, 629) xuất gia tại chùa Chiêu Nhân, Bân châu 豳州昭仁寺. Học thông cả Nho lẫn Thích. Vua sắc phong “ Đại Từ Ân tự phiên kinh Đại đức ”. Cao Tông nhiều lần triệu vào Đại nội, cùng đối luận với các đạo sĩ, rất hợp ý chỉ của vua. Lúc bấy giờ, Thượng y phụng ngự Lữ Tài (quan chức tối cao trong Thượng dược cục, tức Thái y lệnh, chức trách trị bệnh cho các quan), viết Nhân minh đồ chú , 3 quyển, giải thích sai quấy về nhân minh, tức luận lý học Phật giáo do Huyền Trang truyền, bài xích chính nghĩa của các sư. Huệ Lập bèn viết sách chỉ trích khiến Lữ Tài câm nín. Huệ Lập ngưỡng mộ hành nghi của Tam tạng Huyền Trang do đó viết Pháp sư truyện , 5 quyển. Chi tiết về biên tập và lưu hành bản truyện này được Ngạn Tông tường thuật trong bài tựa: “Năm Trinh Quán 19 (645), Pháp sư về đến Kinh đô Trường An, đạo tục đều nghinh đón, thật là một thời náo nức. Sau đó, yết kiến Thiên tử, vua ân cần hỏi han, rồi chiếu lệnh các quan chọn người tài năng hỗ trợ Pháp sư phiên dịch. Trăm người đều thờ kính, thật khó nói hết lời. Cho đến như hàng thị tộc trâm anh cũng từ giã gia thân mà nhập đạo, bước theo con đường diệu vợi, trong ngoài đều tán dương, biểu thị ngưng nghỉ Hóa thân mà trở về với Chân thân, cũng như hết củi thì lửa tắt; những chuyện như vậy có đầy đủ trong truyện này.” Truyện gốc có 5 quyển, soạn thuật bởi Sa-môn Huệ Lập, Ngụy quốc Tây tự. Chùa này trước kia vốn có tên là 長安太原寺 Trường An Thái Nguyên tự. Huệ Lập được Ngạn Tông mô tả là con người cứng cỏi, không sợ uy nghiêm, xuống nước, vào lửa, không gì làm cho nhụt chí. Ngưỡng mộ sở học và sở hành cũng như hình nghi của Pháp sư, vẻ như càng dùi mài càng cứng rắn, càng trông lên càng cao xa, nhân đó mà soạn sự tích để làm gương lâu đời. Sau khi soạn xong cảo bản, dè chừng còn thiếu sót những điều hay do đó chôn giấu kỹ dưới đất, người đời không ai nghe đến. Cho đến khi bệnh nặng biết chừng không qua khỏi mới khiến môn đồ đào lên mà công bố rồi mới chết. Môn nhân buồn thương kêu khóc nghẹn ngào, mà truyện này lại lưu ly phân tán nhiều nơi, qua nhiều năm tìm tòi, gần đây mới trọn đủ. Bài tựa của Ngạn Tông được viết vào niên hiệu Thùy Củng thứ tư (688), không nói rõ năm Huệ Lập mất. Trong thư danh soạn giả, nói rằng 沙門慧立本釋彥悰箋 – Sa-môn Huệ Lập bản, Thích Ngạn Tông tiên , có thể được hiểu theo hai trường hợp. Hoặc 5 quyển đầu do Huệ Lập viết và 5 quyển sau do Ngạn Tông diễn giải thêm chi tiết. Nhưng cũng có thể hiểu từ bản gốc 5 quyển viết do Huệ Lập soạn, sau đó Ngạn Tông diễn giải thêm chi tiết thành 10 quyển, nghĩa là không phân biệt 5 quyển đầu và 5 quyển cuối là hai người viết riêng biệt. Thế nhưng, cuối quyển 10 ghi một đoản văn Nghị Luận của Huệ Lập 釋慧立論曰 và một bài Kệ Tán 贊曰, luận về con người, công hạnh và sự nghiệp của Pháp sư, và tán dương sở hành, sở học của Pháp sư. Luận và Tán này ở cuối quyển 10 có thể chứng minh rằng, thoạt tiên bản truyện Huệ Lập viết thủy chung 5 quyển, nhưng sau đó theo yêu cầu Ngạn Tông bổ sung chi tiết thành 10 quyển. Nghĩa là, không phải Huệ Lập chỉ soạn 5 quyển đầu và Ngạn Tông tiếp nối thêm 5 quyển sau. Trong 10 quyển, quyển 1 ghi chép tiểu sử Pháp sư từ xuất sinh, xuất gia, thọ giới, tham học cho đến năm Trinh Quán thứ 3 (629) xuất phát từ Trường An, qua Ngọc Môn quan, vượt sa-mạc Mạc-hạ-diên, đi về phía tây cho đến nước Cao Xương. Quyển 2 cho đến quyển 5, chép cuộc hành trình từ nước A-kì-ni (Agni) cho đến cuối cùng trở về bản quốc. Đây cũng chỉ là bản tóm tắt cuộc hành trình nhập Trúc cầu pháp được ghi chép chi tiết trong Đại Đường Tây vực ký ( Tây vực ký ). Quyển 6 trở đi, bắt đầu từ năm Trinh Quán 19 (645), Pháp sư về đến Trường An. Cho đến quyển 10, chép từ năm Hiển Khánh thứ 3 (658) rời Lạc Dương về Trường An, trú tại chùa Tây Minh. Năm sau dời vào cung Ngọc Hoa. Truyện ghi, Pháp sư khởi hành năm Trinh Quán thứ 3 (629), bất chấp lệnh cấm xuất quan, mạo hiểm Tây Trúc cầu pháp, trải qua 17 năm, kinh lịch 138 nước, Tây vực và Ấn Độ. Năm Trinh Quán 19 (645), Pháp sư trở về nước, mang theo 657 Phạn bản; trong đó: Đại thừa kinh 224 bộ Đại thừa luận 192 – Thượng tọa bộ (Sthavira) 14 – Đại chúng bộ (Mahāsaṅghika) 15 – Hóa địa bộ (Mahīśāśka, Di-sa-tắc) 22 – Chính lượng bộ (Sammitiya, Tam-di-để) 15 – Ẩm quang bộ (Kāśyapīya, Ca-diếp-tí-da) 17 – Pháp tạng bộ (Dharmagupta, Pháp mật bộ) 42 – Nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivāda) 67 – Nhân luận (Hetuśāstra) 36 – Thanh luận (Śabdika-śāstra) 13 bộ. Cũng năm đó, Trinh Quán 19 (645), ngày 6 tháng 6, vâng sắc chỉ Hoàng đế, tại chùa Hoằng Pháp, Pháp sư khởi sự phiên dịch các Phạn bản đã mang về, cho đến năm Long Sóc 3 (663), sự nghiệp phiên dịch hoàn tất với bộ Đại Bát-nhã 600 quyển. Giáo nghĩa mà Trung hoa tiếp nhận đầu tiên là Không Tính luận (śūnyavāda) vốn là yếu nghĩa hàm chứa trong các kinh Bát-nhã như Đại phẩm và Tiểu phẩm mà trước đó Cưu-ma-la-thập (Kumārajīva) đã dịch. Đây chỉ là một phần của toàn bộ kinh điển Đại Bát-nhã , tương đương với Pañcaviṃśatisāhasrikā ( Nhị vạn ngũ thiên tụng ) và Aṣṭasāhasrikā ( Bát thiên tụng ) trong khi Śatasāhasrikā Prajñāpāramitā Sūtra ( Bách thiên tụng ) và nhiều Kinh thuộc hệ Kinh Bát-nhã chưa hề được biết đến. Do đó, khi được biết số lượng đồ sộ của Đại Bát-nhã , đại chúng yêu cầu Pháp sư phiên dịch. Pháp sư cho rằng dịch trường trong chùa Từ Ân là chốn kinh thành ồn ào mà mệnh người lại vô thường khó có thể hoàn tất bộ Kinh lớn này, tỏ ý được dời vào cung Ngọc Hoa. Vua Cao Tông tức thì chấp thuận. Cung Ngọc Hoa vốn là nơi nghỉ mát, tĩnh dưỡng được xây dựng vào năm Trinh Quán thứ 2 (628). Đến năm Vĩnh Huy thứ 2 (651) Đường Cao Tông Lý Trị đổi thành chùa Ngọc Hoa. Năm Hiển Khánh thứ 4 (659), Pháp sư dời vào cung Ngọc Hoa, bấy giờ đã đổi thành chùa Ngọc Hoa, và đến năm sau (660) khởi sự phiên dịch. Cho đến niên hiệu Long Sóc thứ 3 (663) thì hoàn tất toàn bộ Đại Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh , gồm 600 quyển, 16 hội. Ngày 7 tháng 12 (âm lịch) năm đó (663), sau khi hoàn tất phiên dịch Đại Bát-nhã, Pháp sư cảm thấy thân thể suy kiệt, bảo môn nhân: “Ta dời vào Ngọc Hoa vốn do nhân duyên Bát-nhã, nay phiên dịch đã hoàn tất, mệnh sống của ta cũng đến lúc cạn hết. Sau khi vô thường đến với ta, các người phải nghe di chúc của ta mà giản đơn kiệm ước, hãy dùng chiếu lác bó thây, chọn nơi khe núi vắng vẻ mà chôn, chớ để gần chùa cung (chùa Ngọc Hoa). Thân bất tịnh cần phải chôn nơi xa cách.” Năm sau, Lân Đức thứ nhất (664), tháng Giêng, Pháp sư khiến Gia Thượng Pháp sư tổng kết Kinh Luận đã được phiên dịch, tính được 74 bộ (合七十四部, Julien hiểu là 740 bộ), 1338 quyển. Sang tháng hai, ngày 5, vào lúc nửa đêm, các đệ tử hỏi: “Hòa thượng có nhất định được sinh lên nội viện của Đức Di-lặc không?” Pháp sư đáp: “Được.” Rồi hơi thở yếu dần, và phút chốc thâu thần, nhưng người hầu không biết, chỉ khi chạm đến y phục mới hay. Sau khi viết Pháp sư truyện, Huệ Lập cảm thấy còn thiếu sót nên chôn giấu, trước khi chết khiến môn nhân tìm kiếm, nhưng cốt truyện lưu lạc trong dân gian, qua một thời gian dài mới tìm thấy 5 quyển; năm 688 Ngạn Tông bổ sung thêm chi tiết thành 10 quyển. Huyền Trang mất năm Lân Đức thứ nhất (664), như vậy truyện nguyên cảo Huệ Lập viết và Ngạn Tông tiên thích được lưu hành sau khi Pháp sư tịch trên 20 năm. Huệ Lập và Ngạn Tông đều là nhân vật đồng thời Pháp sư nên truyện ký tất nhiên được nghe chính Pháp sư kể. Thực tế, Pháp sư truyện 10 quyển do Huệ Lập và Ngạn Tông thực hiện được thấy rõ là bản tóm tắt của Tây vực ký được chính Pháp sư thuật và Biện Cơ biên tập, 12 quyển, hoàn tất năm Trinh Quán 20 (646). Huệ Lập, Ngạn Tông, Biện Cơ, Phổ Quang, Đạo Tuyên v.v… là những vị trong số chín Đại đức được tuyển chọn làm Chuyết văn (chuốt văn) Đại Đức và hỗ trợ Huyền Trang phiên dịch. Đạo Tuyên mất năm 687, trước khi Ngạn Tông tiếp tục biên tập Pháp sư truyện và lưu hành. Niên hiệu Lân Đức thứ nhất (664), dưới triều Đường Cao Tông Lý Trị, Đạo Tuyên hoàn thành Đại Đường Nội điển lục , sao lục sự nghiệp dịch kinh từ thời Đông Hán (25-220) với 220 dịch giả, kinh điển 2487 bộ, 8476 quyển, trong đó ghi chép số lượng kinh điển do Pháp sư dịch và soạn tính đến năm Lân Đức 1 (644) có hơn 60 bộ trên 1344 quyển. Ước tính này có sai khác với kiểm lục mà Huyền Trang đích thân khiến Gia Thượng Pháp sư như đã thấy trên. Đạo Tuyên cũng viết Tục Cao tăng truyện , sao lục các cao tăng phiên dịch kinh điển từ buổi đầu nhà Lương cho đến niên hiệu Trinh Quán 19 (645), đó là năm Pháp sư khởi sự phiên dịch tại chùa Hoằng Phước. Bài tựa của chính Đạo Tuyên viết cho Tục Cao tăng truyện nói: “Bắt đầu từ sơ vận của đời Lương (502-557), kết thúc Đường Trinh Quán 19 (645), trải qua 140 năm, bao quát Nhạc Độc (sông núi Trung Nguyên) cho đến khắp Hoa Hạ, Man Di, chính truyện 340 người, phụ lục 160 người.” Trong đó, quyển 4, chép Từ Ân tự Huyền Trang truyện , từ sơ sinh, thân thế, dòng họ, xuất gia, thọ giới, nghiên tập Thánh điển, Câu-xá, Thành thật, Nhiếp luận , v.v… đại để cũng như được ký tải trong Pháp sư truyện bởi Huệ Lập và Ngạn Tông. Truyện tiếp theo sau đó, trên đường Tây hành, lướt qua đoạn đường từ sự cố Qua Châu, sự cố Hồ Tăng Thạch-bàn-đà, vượt qua sa-mạc Mạc-hạ-diên, cuối cùng đến Cao Xương, như được kể trong truyện bởi Huệ Lập. Những ngày Pháp sư lưu trú tại Cao Xương, mối quan hệ giữa Pháp sư với Khúc Văn Thái 麴文泰 truyện kể sơ lược. Rời Cao Xương đến Thiết môn quan, trong quốc cảnh Cao Xương. Từ đây, đoạn lữ hành cho đến A-kì-ni (Agni) không được Đạo Tuyên ký tả theo thứ tự các nước. Như từ Thiết môn quan phía Tây Hán thổ đi thẳng đến nước 覩貨羅 Đổ-hóa-la (Tukhāra), nơi phát nguyên con sông lớn 縛芻 Phược-sô (Vakṣu/Oxsus) chảy qua 27 nước, Pháp sư lần lượt đến 縛喝 Phược-hát (Balkh) trong Tây vực ký quyển 1. Từ Phược-hát lại kể thẳng đến Ca-tất-thí (Kapitha) trong Tây vực ký quyển 4, bỏ qua 13 nước. Những địa danh thuộc các nước Tây vực đọc theo phiên âm cũ như Ô-kì thay cho A-kì-ni. Từ đó các phiên âm đều theo Tây vực ký . Năm Trinh Quán 20, Huyền Trang vâng sắc lệnh vua soạn Tây vực ký 12 quyển tại chùa Hoằng Phước, Sa-môn Biện Cơ vâng chỉ chuyết văn, tháng 7 năm đó thì dứt, như được thấy trong Đại Đường nội điển lục (Đạo Tuyên soạn, 644) mà Khai Nguyên lục và Trinh Nguyên lục đều dẫn. Như đã thấy trên, chính Đạo Tuyên nói Tục Cao tăng truyện được viết đến năm Trinh Quán 19 thì ngưng. Như vậy, nó được ngưng trước khi Tây vực ký được viết. Thế nhưng, trong bản truyện hiện hành trong Đại Chánh , truyện Huyền Tráng được chép đến năm Lân Đức 1 (664), năm Pháp sư tịch. Từ đây có thể biết, tiểu truyện Pháp sư nguyên cảo được kể từ sơ sinh cho đến thời Tây hành vượt qua nhiều nước trước khi đến nước đầu tiên trong số 138 nước Pháp sư sẽ kinh lịch mà Tục Cao tăng truyện vẫn còn kể theo âm cũ Ô-kì, thay vì A-kì-ni như trong Tây vực ký . Từ địa danh 阿耆尼 A-kì-ni không xuất hiện trong Cao tăng truyện bởi Đạo Tuyên, thay vào đó là Ô-kì. Pháp sư truyện và Tây vực ký đều có phụ chú 阿耆尼國 (舊曰烏耆) “Nước A-kì-ni , xưa gọi là Ô-kì .” Không chỉ A-kì-ni, mà còn nhiều địa danh khác không xuất hiện như phiên âm Hán trong Pháp sư truyện và Tây vực ký như 屈支國界(舊云 龜茲,訛也) Khuất-chi (Kucha), Cao tăng truyện âm theo xưa gọi là Quy tư, (斫句迦國(舊曰沮渠); Chước-cú-ca (địa danh chưa được xác định. Julien âm là Tchakouka; Beal và Watters cho là thuộc địa phương Yarkiang; A. Stein cho là Kargilik hay Karghalik) Cao tăng truyện theo âm cũ là Trở-cừ, 佉沙國 (舊謂疏勒者) Nước Khư-sa (Kashgar) theo âm cũ là Sơ-lặc. Từ những ký tải địa danh này, có thể nói, phần này Cao tăng truyện viết trước khi Tây vực ký được biên soạn. Đại Đường Nội điển lục , Đạo Tuyên soạn (Lân Đức 1, 664), cho biết nguyên cảo Tục cao tăng truyện , 1 bộ 30 quyển, sau đó viết tiếp phần sau gọi là Hậu tập Tục cao tăng truyện , 1 bộ 10 quyển. Nhưng đến Khai Nguyên Thích giáo lục (Trí Thăng soạn, Khai Nguyên 18, 730), chỉ ghi Tục cao tăng truyện 30 quyển, không nhắc đến Hậu tập Tục Cao tăng truyện 10 quyển. Do đây có thể nói rằng, sau khi Huyền Trang về nước, bắt đầu sự nghiệp phiên dịch mà Đạo Tuyên tham gia. Sau đó Tây vực ký được biên soạn, Đạo Tuyên có đầy đủ thông tin về những nước mà Huyền Trang đã kinh lịch, và bản thân cũng gần với Huyền Trang cho đến ngày Pháp sư tịch, trải qua trên 30 năm, nên ghi chép những điều bản thân chứng kiến, cho đến năm Lân Đức 1 (664) tập thành 10 quyển phần sau của Tục cao tăng truyện . Về cuối đời, ba năm sau, Đạo Tuyên có thể sáp nhập hai bộ trước sau thành một bộ 30 quyển như Khai Nguyên lục ghi. Đạo Tuyên tịch năm Càn Phong 2 (667, thọ 71 tuổi), trên 20 năm trước khi Pháp sư truyện bởi Huệ Lập và Ngạn Tông được lưu truyền, cho nên những thông tin trong truyện Huyền Trang trước khi Tây hành và sau khi về nước là những sự kiện mà bản thân Đạo Tuyên chứng kiến, mắt thấy tai nghe; đó là những sử liệu trung thực đầu tiên được biết đến. Một tác phẩm khác, có tiêu đề 大唐故三藏玄奘師行狀 Đại Đường Cố Tam tạng Huyền Tráng sư hành trạng , 1 quyển, ấn hành trong Đại Chánh No. 2052, không đề danh tác giả. Cuối truyện có ghi xuất xứ: “Minh Đức năm thứ 2, tháng tám, ngày (không rõ), sau khi cảm nhận bản ký tải này do 冥詳撰 Minh Tường soạn (v.v…). Đại Sư Phú Pháp truyện, văn hành trạng được dẫn dụng, đây và kia phù hợp, thật rất đáng trân trọng. Bên đây là lời ghi của Pháp ấn quyền Đại Tăng đô Hiền Bảo…” Đại Tăng đô Hiền Bảo được nói đến đây có thể là Viện chủ đời thứ hai Viện Quán Trí, Đông Đại tự Todaiji (Mật tông Nhật bản), sinh hoạt trong khoảng hậu bán thế kỷ 14 dưới thời Nam Bắc Triều (Nhật Bản). Xuất xứ bản truyện được thấy lưu hành trong niên hiệu Minh Đức 2, như dẫn trên. Có hai niên hiệu Minh Đức. Thứ nhất, đó là niên hiệu của Cao tổ Hậu Thục Mạnh Tri Tường, và con là Hậu Thục Hậu chủ Mạnh Sưởng 孟昶 (934- 937). Thứ hai, Minh Đức (952), niên hiệu của Đoàn Tư Thông, Hoàng đế thứ tư của nước Đại Lý. Sự lưu truyền của Hành trạng trong vùng đất Tứ Xuyên, Vân Nam này chưa được biết rõ, nhưng có thể phỏng đoán, bản Hành trạng được một ai đó trong vùng đất này mang đến trong khoảng 934-952. Hiền Bảo Đại Tăng đô, sinh hoạt trong khoảng 1333-1338, dưới thời Nam Bắc triều Nhật Bản, hàng thứ hai trong chế độ Tăng quan, sau Đại tăng chánh (tương đương Tăng Thống Việt nam), tăng lữ Chân Ngôn tông, hệ Đông tự, tác giả nhiều tác phẩm về Mật giáo. Không rõ mối quan hệ giữa Hiền Bảo với sự lưu truyền Hành trạng mà sư có được và phát biểu là cảm kích với những ký sự trong đó. Tuy được ấn hành trong Đại Chánh, nhưng không thấy được nhắc đến ở đâu trong các Kinh lục, hay các thư tịch Phật giáo Hán. Tác giả và niên đại được biết qua tư liệu về Pháp sư trong Huyền Tráng Tam tạng sư tư truyền tòng thư 玄奘三藏師資傳叢書, biên soạn bởi Tá Bá Định Dận 佐伯定胤 (Saeki Jōin, 1867-1952) và Trung Dã Đạt Huệ 中野達慧 (Nakano Tatsue, 1871-1934), nêu rõ là (唐)冥详撰 – Đường Minh Tường soạn. Hành trạng chỉ chép truyện đến sau ngày Pháp sư tịch, ngày đưa tang, tất cả tăng ni trong kinh thành dựng tràng phan đưa đến mộ phần. Và kết thúc nói: “Những điềm thần dị báo hiệu sự kiện này, thật không cần thiết liệt kê hết ra đây.” Có khá nhiều điểm tương đồng trong ba bản truyện với một ít xuất nhập. Điều đáng lưu ý, trong phần thân thế, ba bản truyện có một chi tiết khác nhau, cho phép suy đoán cả ba được viết độc lập không tham khảo lẫn nhau. Ba bản truyện xem như được viết cùng thời, nhưng sự lưu truyền nhân gian khó rõ trước sau. Trong đó, bản truyện trong Tục Cao tăng truyện có thể chỉ giới hạn trong giới Phật giáo. Trong hai bản kia, Hành trạng thấy được lưu truyền đâu đó trong khoảng Vân Nam, đất Hậu Thục hay Đại Lý, và có vẻ được biết đến ở Nhật Bản nhiều hơn là Pháp sư truyện . Dù sao, ba bản truyện này đều được viết bằng Hán văn, và bản người Nhật sưu tập cũng bằng Hán văn. Trong khi đó, có một bản dịch bằng Hồi-hột văn 回紇文, tức văn tự của người Uyghur mà ngày nay phiên âm chính thức là 维吾尔 đọc theo Hán âm là Duy-ngô-nhĩ, được phát hiện tại Tân Cương năm 1930. Đây là bản dịch Hồi-hột văn dịch bởi 勝光法師 Pháp sư Thắng Quang từ Đại Đường Đại Từ Ân tự Pháp sư Huyền Trang truyện bởi Huệ Lập và Ngạn Tông. Pháp sư Thắng Quang thuộc tộc Duy-ngô-nhĩ, sinh hoạt trong khoảng thế kỷ 10-11. Được biết Sư tinh thông Hán văn và Hồi-hột văn. Ngoài bản dịch Pháp Sư truyện , Sư còn một số bản dịch khác từ Hán văn sang Hồi- hột văn, như Kim Quang Minh Tối Thắng Vương kinh , từ bản Hán dịch của Nghĩa Tịnh. Có lẽ đây là bản dịch duy nhất, ngoài nguyên bản Hán, được lưu truyền ở Tây vực, cho đến khi các thừa sai khám phá Tây vực ký và truyền vào Âu châu qua các bản dịch Pháp và Anh. Việt Nam cho đến thế kỷ XX mới biết đến cuộc tây hành cầu pháp của Pháp sư tương đối đầy đủ tuy không chi tiết qua tác phẩm nghiên cứu của Bhikkhu Thích Minh Châu y cứ trên bản truyện bởi Huệ Lập: Hsuan-Tsang, the Pilgrim and Scholar , Nava Nalanda Mahavihara 1961; bản dịch Việt, Thích nữ Trí Hải, Huyền Trang, nhà Chiêm bái và Học giả , Đại học Vạn Hạnh, 1966. Sách viết bằng Anh ngữ trong thời mà Pháp văn là ngôn ngữ thông dụng ở miền Nam, do đó không được phổ biến. Được biết đến rộng rãi trong giới Phật tử là qua tác phẩm Huyền Trang , viết bởi Võ Đình Cường, Hương đạo xuất bản 1960. Trong thế giới phương Tây, do mục đích truyền giáo, các thừa sai La-mã đã khám phá Tây vực ký với những thông tin quý giá về lịch sử, địa lý, kinh tế văn hóa, của các nước từ Tây vực cho đến nội cảnh Ấn-độ bấy giờ, kể từ nửa sau thế kỷ XIX. II. Năm 643, sau Pháp hội Thành Khúc nữ (Kannauj), cuộc luận chiến do vua Giới Nhật (Śīlāditya) tổ chức ( Pháp sư truyện quyển 5, Tây vực ký quyển 5), Pháp sư từ giã Ấn-độ, trở về bản quốc. Vượt Thông Lãnh, trải qua trên 30 nước; năm sau, 644, đến Vu-điền 于闐, tức là nước Cù-tát-đán-na trong Tây vực ký. Theo thỉnh cầu của Quốc vương Vu-điền, Pháp sư lưu lại đó một thời gian. Nhân đó, Pháp sư sai người tháp tùng đoàn thương nhân dâng sớ về triều, tạ tội vượt biên cảnh trái phép. Bấy giờ chư tăng nước Vu- điền thỉnh Pháp sư giảng luận Du-già, Đối pháp, Câu-xá, Nhiếp Đại thừa , thời gian trải qua 7, 8 tháng. Trinh Quán năm thứ 19 (645), tháng Giêng, Pháp sư về đến kinh thành. Hôm sau, thiết đại hội ở phía nam Đường Châu tước, trưng bày các phẩm vật, kinh, tượng, mà Pháp sư mang từ Ấn-độ về. Tháng hai năm ấy, Pháp sư yết kiến Đường Thái tông tại Kim Loan điện, Lạc Dương. Vua hỏi tình hình các nước trong biên cảnh Ấn-độ, Pháp sư tường thuật đầy đủ. Vua hứng thú, đề nghị Pháp sư ghi chép lại đầy đủ để lưu truyền hậu thế. Pháp sư phụng mệnh, tại Phiên kinh viện chùa Hoằng Phước, biên soạn Tây vực ký , với sự chuyết văn bởi Biện Cơ, đến mùa thu năm sau (646) thì hoàn tất, dâng vua. ( Nội điển lục ) Nguyên đề Tây vực ký được ấn hành trong Đại Chánh hiện tại dưới tiêu đề Đại Đường Tây vực ký , 12 quyển, Tam tạng Pháp sư Huyền Tráng phụng chiếu dịch, Đại Tổng trì tự Sa-môn Biện Cơ soạn. 大唐西域記三藏法師玄奘奉詔譯大總持寺沙門辯機撰. Dịch, biên soạn, hay chuyết văn, thuộc vấn đề tác quyền, được phân tích chi tiết trong phần Dẫn nhập, đây không nhất thiết nói thêm. Vấn đề tiếp theo, đáng lý nên nói trước: “phụng chiếu dịch” . Tất nhiên đây không thể hiểu là phiên dịch từ một nguyên bản Phạn nào đó. Nếu vậy, nó có nghĩa gì? Một số học giả Trung quốc đề nghị giải thích như sau. Trong niên hiệu Hiển Khánh dưới triều vua Đường Cao Tông, nhân các đại thần Tiết Nguyên Siêu và Lý Nghĩa Phủ hỏi Pháp sư về sự nghiệp phiên dịch trong các đời do đâu mà được rực rỡ. Pháp sư đáp: “…Nội bộ gìn giữ xiển dương thì do Thích tử; ngoại hộ thiết lập thì thuộc về Đế Vương…” , và tường thuật các đời Phù Kiên, Dao Hưng, cho đến thời Trinh Quán, thảy đều do quân vương hỗ trợ. “Nay một mình tôi thì không thể được như vậy…” Nhân đó, Cao Tông sắc cho các đại thần như Vu Chí Ninh, Lai Tế, Hứa Kính Tông, Tiết Nguyên Siêu… thỉnh thoảng hãy đến hỗ trợ, nếu có chỗ nào chưa ổn thỏa thì nhuận sắc liền… Do sự nhuận sắc này, các bản văn từ dịch trường đều được ghi “phụng chiếu dịch” . Giải thích này khả dĩ chấp nhận được một phần, vì hầu hết các bản kinh luận từ Pháp sư đều ghi “phụng chiếu dịch” . Đây cũng là thông lệ cho một số trường hợp. Như Phóng quang Bát-nhã của Vô-la-xoa, hay Đại Trí Độ luận của Cưu-ma-la-thập, đều ghi “phụng chiếu dịch” . Tất nhiên cũng có ý kiến (Watters, On Xuan Chwang) cho rằng chính Pháp sư tự mình ghi lại mà không cần đến sự giúp đỡ của ai khác. Ý kiến này cũng đồng với ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu Trung hoa. III. Một số mục lục kinh điển, khởi đầu từ Nội điển lục, như được trích dẫn trong Khai Nguyên Thích Giáo Lục, đã ghi như sau: 大唐西域記 十二卷(見內典錄貞觀二十年奉勅於弘福寺翻經院撰沙門辯機承 旨綴緝秋七月絕筆), Đại Đường Tây vực ký , 12 quyển (xem Nội điển lục – năm Trinh Quán 20, vâng sắc chỉ vua soạn tại Phiên kinh viện chùa Hoằng Phước, Sa-môn Biện Cơ thừa chỉ chuyết tập, mùa thu, tháng 7 thì hoàn tất). Nội điển lục tức Đại Đường Nội điển lục , là bản mục lục kinh điển soạn bởi Đạo Tuyên, hoàn tất năm 664. Trong đó nói 辯機承旨綴緝 – Biện Cơ thừa chỉ chuyết tập , có thể được hiểu là chuyết (chuốt) văn và xâu kết lại, tức biên tập lại. Cũng có thể hiểu đây chỉ là chuyết văn đơn thuần. Biện Cơ là một trong số chín vị Đại đức được vua Đường Thái Tông truyền chọn là những vị chuyết văn cho các bản dịch của Pháp sư. Thế nhưng, Biện Cơ lại sa vào một thảm án, dẫn đến họa diệt thân. Thảm kịch này có thể vì gây tai tiếng cho tông thất không ít nên không thấy được ghi chép trong Cựu Đường thư , nhưng nó được ghi chép trong Tân Đường thư . Tân Đường thư (quyển 83, Liệt truyện 8) ký tải câu chuyện tai tiếng này đến hai lần. Một, truyện Hợp Phố Công chúa 合浦公主, sau được phong là 高陽 Cao Dương, con gái thứ 17 của Đường Thái Tông. Thứ hai, chép phụ trong truyện 房玄齡 Phòng Huyền Linh (TĐT quyển 96, Liệt truyện 21), về người con trai thứ của ông là 遺愛 Di Ái. Hai truyện này đều tường thuật khá chi tiết về chuyện tư thông của công chúa Cao Dương với tăng Biện Cơ. Chuyện xảy ra lúc nào không thấy ghi rõ. Chỉ có thể suy, năm Trinh Quán 22 (648) Công chúa được gả cho Phòng Di Ái. Năm đó cũng là năm được ghi nhận Biện Cơ chấp bút cho Pháp sư phiên dịch Thiên thỉnh vấn kinh 天請問經 ( Khai Nguyên lục , quyển 8). Sự nghiệp phiên dịch kinh điển của Pháp sư Huyền Trang vẫn còn tiếp tục cho đến 16 năm sau mới tịch. Thế nhưng, sau năm vừa kể, không thấy nhắc đến Biện Cơ trong Phiên kinh viện; vậy sự việc xảy ra sau đó không lâu? Truyện kể rằng, nhân khi Công chúa cùng với Di Ái đi săn, gặp Biện Cơ tại một thảo lư, trong phong ấp của công chúa, bèn vây màn trong thảo lư ấy 具帳其廬,與之亂 rồi cùng tư thông. Nói “vây màn trong thảo lư” , không thấy nói rõ thảo lư này của ai. Thái Tông hay biết, nổi giận, giết Biện Cơ, giết luôn 10 nô tì đi theo Công chúa. Công chúa oán hận; sau khi vua băng, công chúa không tỏ một chút buồn. Các nhà nghiên cứu sử Trung Hoa không thấy bác bỏ câu chuyện này, nhưng vẫn nêu một số hoài nghi. Trong thời Đường, có hai vị danh tăng Huyền Trang và Nhất Hành mà tiểu truyện đều được ghi trong Cựu Đường thư . Nhất Hành (683- 727), truyền thừa Mật giáo trực tiếp từ Kim Cang Trí, được kể là một trong số các nhà thiên văn học lỗi lạc trong lịch sử thiên văn học Trung quốc. Tân Đường thư lược bỏ tiểu truyện hai vị danh tăng thời Đường này. Vả lại, Âu Dương Tu là người chủ biên Tân Đường thư sinh sau cớ sự đó trên 300 năm, sự đồn đãi thị phi trong dân gian trung thực đến mức nào cũng khó đánh giá, vì ngoài câu chuyện được kể bởi Tân Đường thư , chưa thấy có tư liệu hay thư tịch nào nhắc đến. Dù sao, bi kịch, hay chuyện ô danh, của Biện Cơ cũng đáng tin. Bởi vì, sau lần chấp bút cho ngài Huyền Trang dịch Thiên thỉnh vấn kinh , không còn thấy Biện Cơ chấp bút hay chuyết văn cho bản dịch nào thêm nữa, trong khi các vị khác, trong số chín Đại đức được tuyển chọn chuyết văn hay chấp bút, vẫn còn tiếp tục trong sự nghiệp phiên dịch. Các truyện ký về các Cao tăng trong thư tịch sử ký Phật giáo tuy vẫn nhắc đến những đóng góp đáng kể của Biện Cơ, nhưng không nơi nào ghi thành một bản tiểu sử riêng biệt như các vị Cao tăng khác. IV. Sự nghiệp mà Pháp sư để lại cho hậu thế, không chỉ các cộng đồng Phật giáo Á đông, mà cả những nước trải dài nối liền hai nền văn minh tối cổ của nhân loại, và cả một giai đoạn lịch sử của dân tộc Ấn-độ chưa từng được ghi chép. Những nước Tây vực, mặc dù ngày nay không tồn tại như một thực thể dân tộc độc lập; nhưng những ký tả trên các đoạn đường mà Pháp sư đã đi qua cho họ biết lịch sử dân tộc của mình với một quá khứ đáng tôn trọng. Sự nghiệp ấy không chỉ vĩ đại như thế, mà di sản văn hóa do Pháp sư lưu lại cho đến ngày nay không chỉ giới hạn trong các cộng đồng Phật giáo, mà còn phổ biến trong các giới học thuật, tư duy triết học, tín ngưỡng tôn giáo. Kể từ khi đại học Nālandā, nơi mà trước đó bốn thế kỷ Pháp sư đã từng là một tăng lữ lưu trú tham cứu kinh điển, hoàn toàn bị thiêu hủy, kho tàng Thánh điển Phạn văn hầu như biến mất; cho đến thế kỷ 19, một số ít được phát hiện từ những di tích đổ nát bởi các nhà du khảo và khảo cổ. Số tìm lại được thật quá ít so với những gì đã mất mát. Thật là phước đức cho những người học Phật ngày nay, một số kinh điển trong số bị mất chưa tìm lại được nhưng đã được Pháp sư chuyển dịch Phạn Hán. Những bản dịch Phạn Hán này bao gồm các Kinh, các Luận điển và các Luận thư của các bộ phái, các hệ A-tì-đàm và Đại thừa, với các luận thuyết tâm lý học, siêu hình học hay hình nhi thượng, các hệ luận lý học từ luận lý hình thức cho đến luận lý biện chứng và siêu nghiệm. Đặc biệt khi mà tâm lý học tách rời với triết học, bằng các phương pháp luận, từ nội quan, thực nghiệm, cho đến phân tâm học, khoa học não, đã góp phần thực tiễn cho các khảo cứu tâm lý ứng dụng trong nhiều ngành học thuật, thăm dò những tầng sâu thẳm, uẩn áo trong các hoạt động của tâm thức, tìm ra những phương pháp tâm lý trị liệu, cùng với các trị liệu khác hầu mong chữa trị những căn bệnh thời đại, thời đại của những phát kiến khoa học ngoạn mục nhưng cũng chứa đầy những ưu tư, những bất an xã hội. Trong bối cảnh xã hội ấy, những bản dịch Phạn Hán của Pháp sư, đặc biệt là các nguồn Phạn bản từ A-tì-đàm cho đến Du-già hành hay Duy thức, là những nguồn tư liệu phong phú cho phép mô tả các hoạt động cũng như các hiện tượng tâm lý từ quá trình nhận thức khi tâm thức tiếp nhận kích thích ngoại giới dẫn đến nhận thức đúng hay sai, chánh kiến hay tà kiến, kéo theo hậu quả tư duy giáo điều, cố chấp, đa phần có kết quả đáng buồn, gây tổn hại cho chính mình, cho nhiều người, cho cộng đồng mà ta sống trong đó. Dân tộc Việt Nam học và hành theo giáo lý Phật thuyết trên dưới hai nghìn năm, trước khi Pháp sư Huyền Trang quy Phật cũng trên sáu thế kỷ, tuy vậy cho đến nay chúng đệ tử Phật, xuất gia cũng như tại gia, biết đến công hạnh của Ngài rất ít, và cũng biết rất ít di sản Kinh Luận của Ngài cho Phật tử Việt Nam học và hiểu giáo pháp của Đức Thế Tôn một cách chân chính để hành trì chân chính. Bản dịch Đại Đường Tây vực ký của Hòa thượng Như Điển với sự đóng góp của cư sĩ Nguyễn Minh Tiến bổ túc cho sự thiếu sót này. Từ những hiểu biết để thán phục, kính ngưỡng một Con Người vĩ đại, hãn hữu, trong lịch sử văn minh tiến bộ của nhân loại, một vị Cao Tăng thạc đức, với nghị lực phi thường, tín tâm bất hoại nơi giáo lý giải thoát, một thân đơn độc quyết vượt qua sa mạc nóng cháy mênh mông để tìm đến tận nguồn suối Thánh ngôn rồi thỉnh về cho dân tộc mình cùng thừa hưởng nguồn pháp lạc. Không chỉ cho dân tộc mình mà cho tất cả những ai mong cầu giải thoát chân chính. Đây là điều mà những vị đã góp công đức cho bản dịch được hoàn thành như mong ước. Mong ước rằng, những vị đọc bản dịch này cũng sẽ tìm thấy trong đây nguồn cảm hứng để từ đó tự mình tìm thấy con đường đi chân chính, vì an lạc cho chính mình, cho nhiều người, trong đời này và trong nhiều đời sau. Nay kính giới thiệu. Tuệ Sỹ Phật lịch 2565 Mồng hai tháng Chạp năm Tân Sửu Dương lịch: 04.01.2022

Tác giả: Hermann Hesse Dịch bản: Phùng Khánh Nhà xuất bản Hồng Đức Kích thước: 13.5×20.5 cm Hình thức: Bìa mềm Số trang: 435 Mô tả Nhà Khổ Hạnh Và Gã Lang Thang Tập tu ở tu viện Mariabronn, Narcisse nổi bật bởi năng lực trí tuệ và văn hoá của mình. Người ta giao phó cho thầy cậu học sinh Goldmund mà thân sinh cậu ta muốn định phận làm một tu sĩ: để chuộc tội cho cuộc sống xáo động trong quá khứ của thân mẫu cậu. Narcisse kết bạn với chú em thông minh ấy. Thầy cảm nhận khuynh hướng của cậu không phải ở tu viện, và giúp cậu chọn con đường đi. Từ ấy, Goldmund lao vào sống lang thang: trải qua các cuộc phiêu lưu tình ái, cậu tha thiết bắt gặp được tiện mạo lý tưởng của người phụ nữ “Êva vĩnh cửu”, gương mặt thần tượng có thể thay cho thân mẫu cậu đã qua đời. Goldmund trải qua mọi nỗi gian truân, phạm nhiều lỗi lầm trong cuộc sống nay đây mai đó. Không phải Goldmund không ý thức về bản ngã, các điều đối lập nhau trong tâm hồn và xúc cảm của mình. Trong một giờ khắc suy tư tỉnh táo và sâu lắng, cậu quyết định trở thành một nhà điêu khắc: nghệ thuật là phương sách để tìm cái đẹp. Tuy vậy, cậu lại ra đi, cuốn hút theo cuộc sống lang thang… Narcisse và Goldmand kết thân với nhau; tư chất, lối sống, số phận của họ khác nhau, nhưng họ có những điểm gặp để hiểu và yêu quý nhau, để bổ sung cho nhau, khi còn trẻ cũng như về sau này.

Tác giả: Thích Nữ Trí Hải Nhà xuất bản Hồng Đức Kích thước: 12 x 19 cm Số trang: 183 Ngày xuất bản: 08-2017 Mô tả Tập sách nhỏ này kết tập những lời đầu quyển của nội san Pháp Luân về sau là Tuệ Uyển từ những năm 1979 đến nay (2003). Vì ưu điểm ngắn gọn súc tích của nó, độc giả sẽ có nhiều thì giờ hơn để chiêm nghiệm mỗi bài sau khi đọc.Để tiện việc góp nhặt, chúng tôi chỉ xếp theo thứ tự ABC của nhan đề mà không xếp theo chủ đề. Xin ghi nhận ở đây công đức tất cả những vị đã góp phần tạo điều kiện cho sự ra đời của tập Pháp Luân trong một gia đoạn mà Phật pháp đã là những vì sao lấp lánh trong đêm đen.

Tác giả: Alexandra David Neel Dịch giả: Nguyên Phong Nhà xuất bản Hồng Đức Phát hành: First News Số trang: 272 Hình thức bìa: Bìa cứng Ngày xuất bản: 05/2018 Mô tả Lời nói đầu của dịch giả Ngày nay có lẽ Tây Tạng không còn là một nơi chốn huyền bí, lạ lùng nữa. Người ta có thể du lịch đến thủ đô Lhasa một cách tương đối dễ dàng, nhưng Tây Tạng ngày nay không còn như Tây Tạng cách đây nửa thề kỷ. Trước khi qua Tây Tạng, tác giả cuốn sách này, bà David Neel đã là một học giả nổi tiếng vầ Phật học. Bà nhận thấy truyền thống vẫn có những điểm tương đồng, nhưng truyền thống tại Tây Tạng lại dường như khác hẳn nên bà quyết định qua xứ này nghiên cứu, tìm hiểu thêm. Tây Tạng khi đó đang ở trong tình trạng giao thời với nhiều biến động chính trị. Mặc dầu quân đội Anh vừa xâm lăng, bắt buộc xứ này phải thông thương với ngoại quốc, nhưng người Tây Tạng vẫn giữ thái độ thù nghịch với tất cả những gì đến từ bên ngoài. Tuy chính sách bế quan tỏa cảng đã bị loại bỏ nhưng nó vẫn được thi hành có phần chặt chẽ hơn. Trong cuốn “Đường mây qua xứ tuyết” bạn đọc đã theo dõi một tu sĩ Phật giáo, Lạt ma Govinda, đi khắp Tây Tạng sưu tầm kinh điển, tranh ảnh và học đạo, thì trong cuốn “Huyền thuật và các đạo sĩ Tây Tạng” , xin mời bạn đọc theo dõi cuộc hành trình của bà Alexandra David Neel, một phụ nữ người Pháp, đi khắp xứ này với mục đích tìm hiểu và ghi nhận những sự kiện lạ lùng, huyền bí mà chưa có người ngoại quốc nào được chứng kiến. Không như Lạt ma Govinda chỉ chú trọng vào những tài liệu, kinh điển Phật giáo, bà David Neel đã quan sát tất cả các pháp thuật huyền bí, phương pháp tu luyện lạ lùng của nhiều tôn giáo khác nhau. Mục lục Tiểu sử tác giả Vào tập Chương 1: Các tu sĩ huyền môn Chương 2: Đường vào Tây tạng Chương 3: Huyền thuật và ma thuật Chương 4: Các vị Tổ Mật Tông Chương 5: Các bộ môn huyền thuật khác Chương 6: Lý thuyết và thực hành Đoạn kết Về tác giả Alexandra David Neel là phụ nữ da trắng đầu tiên đã du hành khắp Tây Tạng và đến được thủ đô Lhasa. Bà đã dành ra 14 năm để nghiên cứu về Phật học tại đây, lúc thì trong những tu viện hẻo lánh, khi thì nhập thất trong một hang động trên đỉnh Tuyết Sơn. Trong những tác phẩm viết về Tây Tạng, sách của bà chiếm một vị trí vô cùng quan trọng và được coi như những tài liệu có giá trị vượt thời gian. Phần lớn độc giả đều biết đến cuốn Voyage d’une Parisien à Lhassa (Cuộc hành trình của một phụ nữ Paris qua Tây Tạng), một cuốn sách đã làm say mê hàng triệu độc giả khắp nơi trên thế giới. Bà được trao giải “Gold Medal of the Geographical Society of France” và được bầu làm Chevalier of the Legion of Honour. Ít lâu sau, bà lần lượt cho ra mắt những cuốn sách viết riêng về những đề tài khác nhau như Initiations lamaiques (Những cuộc điểm đạo xứ Tây Tạng), Magie d’amour et magie noire (Pháp luật về tình ái và tà thuật), Scenes du Thibet inconnu (Phong tục kỳ lạ xứ Tây Tạng), Le lama aux cinq sagesses (Vị Lạt ma có năm phép thần thông) và sau cùng là cuốn Mystiques et magiciens du Thibet (Huyền thuật và các đạo sĩ Tây Tạng), nội dung đề cập đến các hiện tượng huyền bí, đi sâu vào thế giới bí mật của các đạo sĩ xứ này. Bà qua đời tại Pháp năm 1969. Thông tin bổ sung Trọng lượng 0,36 kg

Mô tả Toàn Nhật là một nhà văn, nhà thơ lớn của văn học dân tộc ta; là một nhà tư tưởng lớn có những quan niệm đầy sáng tạo đối với lịch sử tư tưởng thế kỷ XVIII và cũng là một vị thiền sư đặc biệt trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên, đến nay tên tuổi và sự nghiệp của người đã bị chìm vào quên lãng, tác phẩm của ông tản mạn khắp nơi nên có những tác phẩm đã lọt vào những truyện vãn vô danh. Vì vậy “ Toàn Tập Toàn Nhật Quang Đài (Trọn Bộ 2 Cuốn) ” là tác phẩm thể hiện sự nỗ lực khi nghiên cứu và tập hợp những tác phẩm của Toàn Nhật.

Tác giả: Minh Đức Triều Tâm Ảnh Nhà xuất bản: NXB Hồng Đức, NXB Văn Học Kích thước: 14×21 cm Số trang: 615 Năm xuất bản: 2017 Mô tả Đề Từ Ôi! Diễm tuyệt làm sao! Huyền nhiệm xiết bao! Như vầng mây trắng Kết thành đài hoa Người hiện xuống giữa trần gian Mà sạch trong, vô nhiễm Như hạo khí nghiêng chao đỉnh Sineru Nghiêng chao thiên vương bốn cõi Người bước ra khỏi Māra Bước ra khỏi vô minh tối ám Như một mặt trời Như một vầng trăng Hợp hỗn giờ hoàng đạo Giáo pháp Bất Tử của Người Ban phát bởi vô lượng tâm và trí tuệ Lừng lững giữa vô cùng Lừng lững giữa thế gian Lừng lững giữa không gian Chưa bao giờ lặng tắt! Ôi! Người ôi! Thế gian ôi! Có thấy chăng Như chiếc cầu vồng lung linh bảy sắc Vút qua giữa nghìn trùng hư vô Vút qua bít bùng khổ đau và sự chết Để tạo phùng Bất Diệt Vô Sanh Để đón nhận tình yêu Nibbāna tinh khôi vĩnh cửu Chàng Càn-thát-bà hát ca Nàng Dạ-xoa khiêu vũ Từ cung điện miền Đông dập dờn xiêm lụa Đến bảo tháp non Tây yêu kiều tiên nữ Và cả Bắc, Nam thánh thót cung đàn Ôi! Hỡi ôi! Trái tim ta nhịp đập miên man Trào cảm xúc, hương mạn-thù thơm ngát Víu bắt hạt sương Như đôi mắt long lanh, tinh anh, trong suốt Víu bắt niềm vui Như mùa én, xuân, tươi rạng nụ cười Và nắng ấm sát-na tâm Lấp lánh tiếng lời Cho từng hạt bụi nhân gian Thành giọt bảo châu trong vắt! Bút lau cỏ chợt hiện thành kiếm sắc Chém vô minh, ái dục muôn đời Chém trần gian hoang vu tri kiến rối bời Chém điên đảo, ngu si Và ác tâm, ác giới Chém bản ngã, kiêu căng Và quỷ ma gian dối Trả chánh pháp bình minh Thành suối ngọt nguyên ngôn Cúi lạy đức Sakyā Gotama Đức Đại Giác, Thế Tôn Chữ vụng dại Tâm lầm mê Đặc tả đời Ngài! Đệ tử vô cùng sợ hãi! Sám hối một tỉ lần Giọt nước mắt vẫn cay cay rơi mãi… Mai Trúc Am – Đông 2014 – Tỳ Kheo Giới Đức – (Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

Mô tả Bồ Tát Quảng Đức khi lên 7 tuổi thì được cha mẹ cho cậu ruột mình là thiền sư Hoằng Thâm nuôi dạy, rồi xuất gia và đặt tên đạo là Thị Thủy, tự là Hạnh Pháp và hiệu là Quảng Đưc. Sau khi thọ giới Cụ túc, Bồ tát nhập thất tu hạnh đầu đà ba năm, xong thì đi hành ở vùng Vạn Ninh và giữ nhiệm vụ kiểm tăng của Chi hội Phật học Ninh Hòa. Đến năm 1943 vào Nam hành hóa, để tới năm 1963 thì phát nguyện tự thiêu. Tập sách này chia làm bốn chương: Chương thứ nhất là dịch và công bố toàn bộ mười bốn văn kiện liên hệ đến Bồ tát Quảng Đức. Chương thứ hai là dịch và công bố mười văn kiện của thiền sư Như Đạt Giải Nghĩa Hoằng Thâm. Chương thứ ba là dịch và công bố các văn kiện liên hệ đến tổ sư Chơn Hương Thiên Quang và tổ đình Linh Sơn. Tất cả các bản dịch văn kiện này được sắp xếp theo niên đại ra đời của chúng trong từng nhóm và được đánh số liên tục từ 1 đến 35. Chương thứ tư là ghi lại một số nhận xét của chúng tôi về các văn kiện ấy, đặc biệt trong liên hệ với cuộc đời hoạt động Phật sự của Bồ tát Quảng Đức. Cuối sách, chúng tôi thiết lập lại niên biểu chi tiết cuộc đời Bồ tát Quảng Đức cùng các sự kiện liên hệ cho tới năm 1948. Vạn Hạnh đầu hạ năm Ất Dậu 2005 Lê Mạnh Thát

Tác giả: Mahatma Gandhi Dịch giả: Thích Nữ Trí Hải Nhà xuất bản: NXB Hồng Đức Phát hành: Khai Tâm Kích thước; 15.5×23 cm Loại bìa: Bìa mềm Số trang: 527 Ngày xuất bản: 10/2018 Mô tả Lời giới thiệu Năm 17 tuổi, đang học Trung đẳng Phật học, bấy giờ tình cờ tôi được đọc một cuốn sách Việt ngữ nói về Thánh Gandhi. Không còn nhớ rõ tên tác giả, nhưng cuốn sách ấy đã làm cho tôi chịu ảnh hưởng rất nhiều của Ngài, ngoài ảnh hưởng của Phật. Sau này, khi biết suy tư về tình trạng của xứ sở, Thánh Gandhi đã cho tôi một sự dung hóa tuyệt hảo, không gượng ép về tín ngưỡng với tổ quốc, với cuộc đời. Đó là một ân huệ lớn lao cho tôi, bây giờ và chắc chắn sau này vẫn còn mãi. Xin ghi lại ân huệ đó để giới thiệu dịch phẩm này, hay bất cứ cái gì về Thánh Gandhi. – Trí Quang —————– Những gì tôi muốn hoàn thành – những gì tôi đã nỗ lực khát khao hoàn tất suốt ba mươi năm nay – là khát khao tự chứng, khát khao đối mặt cùng Thượng Đế, khát khao đạt đến Giải thoát. Tôi sống, di động, tồn sinh trong cuộc săn đuổi cùng đích này. Tất cả những gì tôi làm qua lời nói và viết lách, tất cả những mạo hiểm của tôi trong trường chính trị đều hướng về cùng đích ấy. Nhưng đối với tôi, chân lý là nguyên tắc tối thượng bao gồm nhiều nguyên tắc khác. Lẽ chân này không những chỉ là chân thật trong lời nói mà còn trong tư tưởng, và không chỉ là lẽ chân tương đối trong quan niệm của chúng ta, mà còn là Chân lý Tuyệt đối, Nguyên tắc Bất diệt, chính là Thượng đế. Có vô số định nghĩa về Thượng đế, bởi vì có vô số biểu tượng về Ngài. Những biểu tượng ấy khiến tôi lấy làm lạ lùng kinh sợ và đôi khi phải kinh ngạc. Nhưng tôi chỉ tôn thờ Thượng đế như là chân lý và chỉ chân lý mà thôi. Tôi chưa bắt gặp Ngài, song tôi đang tìm kiếm Ngài. Trong câu chuyện này, tôi sẽ chỉ kể những vấn đề tôn giáo nào mà cả trẻ con lẫn người lớn đều có thể hiểu được. Nếu tôi có thể kể chúng trong tinh thần khiêm cung và vô dục, nhiều hành giả khác sẽ tìm thấy trong những mẫu chuyện ấy hành trang để tiến lên. Tôi tuyệt nhiên không tự hào những kinh nghiệm ấy là hoàn hảo. Tôi không xác quyết gì về chúng, chẳng khác nào một nhà khoa học dù đã hết sực thận trọng, kỹ lưỡng và chính xác trong những cuộc thí nghiệm, cũng không bao giờ đoan chắc những kết luận của ông là tuyệt đối, mà luôn luôn có tinh thần mở rộng trước những kết luận ấy. Tôi đã trải qua những nội quán sâu xa, tự kiểm điểm hết mình, khám nghiệm và phân tích hết mọi trạng huống tâm lý. Tuy nhiên tôi vẫn tuyệt đối không đoan quyết những kết luận của tôi là tối hậu và không lỗi lầm. – trích Lời mở đầu Tự truyện Gandhi là một cuốn sách hay, được viết bằng lời tự sự mộc mạc, giản dị và đầy tính khiêm cung đã đánh động đến phần sâu bên trong của người đọc và có một sự thôi thúc của năng lượng tích cực trong suy nghĩ, hành động. Giống như Đại thi hào Tagore đã nhận định: “Nghe tiếng gọi của Gandhi, Ấn Độ xông ngay tới một cảnh vinh quang cao quý mới, như hồi xưa, rất xa xăm, khi Phật tổ tuyên bố đạo từ bi, thương yêu cả mọi sinh vật”. – Cảm nhận từ độc giả.

Tác giả: Geshe Kelsang Gyatso Dịch giả: Thích Nữ Trí Hải Nhà xuất bản Hồng Đức Kích thước: 12 x 20 cm Hình thức: Bìa mềm Số trang: 223 Ngày xuất bản: 03-2012 Mô tả Tập sách Tình Yêu Phổ Quát (Universal Compassion) của ngài Geshe Kelsang Gyatso do Ni trưởng Trí Hải chuyển dịch cung cấp thêm cho chúng ta một số cách thức hay giải pháp luyện tâm, giúp chúng ta nhận biết và thực hành con đường thật sự đưa đến giác ngộ an lạc. Tập sách này là một chú giải căn bản và sáng sủa về một tác phẩm Phật học Tạng ngữ có tên là “Bảy Pháp Luyện Tâm” do ngài Chekhavva biên soạn y cứ theo truyền thống Phật giáo Tây tạng. Qua kinh nghiệm tâm linh và lối trình bày tinh tế của ngài Gyatso cũng như qua sự chuyển dịch tài tình của Ni trưởng Trí Hải, hy vọng tập sách này sẽ mang đến cho độc giả nhiều gợi ý và cảm nhận hữu ích về một trong số các truyền thống tâm linh Phật giáo.

Tác giả: Geshe Kelsang Gyatso Dịch giả: Thích Nữ Trí Hải Nhà xuất bản Hồng Đức Mô tả Tập sách Phật giáo truyền thống Đại thừa (Buddhism in the Tibetan tradition) do ngài Geshe Kelsang Gyatso biên soạn và được Ni trưởng Trí Hải chuyển dịch ra Việt ngữ là một tác phẩm Phật học căn bản, lý giải về ý nghĩa và mục tiêu cuộc sống, về cách thức khiến cho cuộc sống trở nên có ý nghĩa và đạt giá trị lớn lao là thành tựu mục tiêu giác ngộ thông qua sự học hỏi, chiêm nghiệm và thực hành Phật pháp. Lấy ý tưởng lời Phật dạy trong câu Pháp cú số 182 nêu rõ “ Thân người khó được, Phật pháp khó nghe ”, tác giả lưu ý mọi người về sự kiện may mắn được làm thân người và gợi ý về cách thức làm thế nào vận dụng cái nhân duyên may mắn ấy làm cho đời sông trở nên có ý nghĩa và giá trị an lạc theo đúng tôn chỉ giác ngộ của chư Phật và chư vị Thánh giả Phật giáo. Tập sách do đó bao gồm các chỉ dẫn căn bản cho sự nhận hiểu và thực hành Phật pháp, đặc biệt thông qua kinh nghiệm mang tính truyền thống Phật giáo Tây tạng. Tây tạng là nơi có truyền thống tâm linh phong phú và sâu sắc nhờ điều kiện môi trường và thái độ tôn trọng đặc biệt. Ngoài một vài truyền thống đặc thù rất khó lãnh hội, niềm tin và nếp sống hàng ngày của người Phật tử Tây tạng cho thấy họ được thừa hưởng một truyền thông tâm linh sâu sắc và phong phú. Ngày nay, thông qua sứ mệnh của các tăng sĩ Phật giáo Tây tạng, truyền thống ấy đang được mở rộng và được giới thiệu ở nhiều nơi trên thế giới bằng ngôn ngữ và hành trạng khá dung dị. Tập sách Buddhism in the Tibetan tradition do ngài Gyatso viết bằng ngôn ngữ phương Tây là một nỗ lực về phương diện ấy. Chúng tôi trân trọng giới thiệu tập sách này đến với quý Phật tử và quý độc giả. Tp. Hồ Chí Minh, ngày 15/09/2010 Tỷ-kheo THÍCH MINH CHÂU Viện chủ Thiền viện Vạn Hạnh Thông tin bổ sung Trọng lượng 0,27 kg

Tác giả: Karen Armstrong Dịch giả: Nguyễn Minh Quang, Nguyễn Chi Hoan Đơn vị phát hành: Omega+ Hình thức: Bìa cứng Số trang: 648 Mô tả Karen Armstrong là một tác giả người Anh, chủ nhân của 12 cuốn sách về tôn giáo đối chiếu, và là chuyên gia về đức tin trên thế giới, trào lưu tôn giáo chính thống và thuyết độc thần. Năm 1993, được công chúng chú ý nhờ cuốn sách Lịch sử Thượng đế, công trình của Armstrong tập trung vào những điểm tương đồng của các tôn giáo lớn, cũng như tầm quan trọng trong nhiều khía cạnh của lòng trắc ẩn, hay “Quy tắc vàng” theo cách giải thích của bà. Vì sao có sự tồn tại của Chúa Trời? Ba tôn giáo độc thần chủ đạo – Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo – đã định hình và thay đổi khái niệm Chúa Trời như thế nào? Ba tôn giáo này có sự ảnh hưởng lẫn nhau ra sao? Trong cuốn sách viết lối tư duy thông minh này, Karen Armstrong, một trong những nhà dẫn giải tôn giáo hàng đầu của Anh lần lại lịch sử quá trình nam giới và phụ nữ nhận thức và trải nghiệm liên quan tới Chúa Trời, từ thời Tổ phụ Abraham cho tới hiện tại. Karen Armstrong dẫn dắt độc giả qua một hành trình lịch sử tôn giáo tại nhiều nền văn hóa khác nhau. Bà cho rằng, từ rất xưa và dưới dạng tinh khôi nhất, các nền văn hóa đều khá tương đồng nhau, đều sử dụng lễ nghi, nghi thức bí truyền, kịch, múa, trầm tư mặc tưởng để giúp con người vượt qua bể trầm luân. Tôn giáo, do đó, rõ ràng là vấn đề về thực hành, và có thể được so sánh với hội họa hay âm nhạc. Hai thứ đều khó sáng tác, và khó cảm thụ. Nhưng khi đã dấn thân, không một ai nghi ngờ về việc hạnh ngộ được những điều quý báu xảy ra trong hành trình ấy. Ta bước ra khỏi một phòng tranh hay một thính phòng, tâm hồn được tưới tắm, tươi mới, thăng hoa và thư thái, và như mình là một con người tốt đẹp hơn, dù người chung quanh có hay không nhận ra sự thay đổi này. ĐÁNH GIÁ/NHẬN XÉT CHUYÊN GIA “Công trình tổng hợp ngoạn mục, ấn tượng, làm sáng tỏ và hài lòng hàng ngàn những con người thế tục.” – The Washington Post Book World “Cuốn sách vô cùng tỏ tường, cực kỳ dễ đọc. [Karen] Armstrong có một năng lực siêu việt: bà có thể tổ hợp một chủ đề phức tạp, lòng vòng thành những nguyên tắc cơ bản mà không quá tối giản chúng.” – The Sunday Times (London) “Rất lôi cuốn . . . Một mạch nguồn tri thức.” – Time “ Công trình nghiên cứu hấp dẫn, giàu thông tin về cuộc chinh phục vô vọng nhất trong lịch sử — công cuộc tìm kiếm Thượng Đế. Karen Armstrong đúng là thiên tài.” – A.N. Wilson, tác giả của Jesus: A Life TÁC GIẢ: Sinh 14 tháng 11 năm 1944 Tác giả và nhà bình luận người Anh gốc Ireland, theo Ki-tô giáo, nổi tiếng với các cuốn sách về tôn giáo so sánh, tập trung vào sự tương đồng giữa các tôn giáo lớn, chẳng hạn như tầm quan trọng của Lòng trắc ẩn và Quy tắc Vàng. Từ một nữ tu Giáo hội Công giáo La Mã thủ cựu, tiến dần tới tín ngưỡng tự do hơn và chủ nghĩa thần kí Ki-tô giáo. Ba lần phát biểu trước các nghị sĩ Mỹ; thuyết giảng trước các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại New York, Jordan và Davos; nói chuyện tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại tại Washington và New York, diễn giả khách mời của nhiều quốc gia Hồi giáo, hiện tại đại sứ của Liên Minh các nền văn minh của Liên Hợp Quốc (UNAOC). Tháng 2 năm 2008, bà đoạt giải TED Prize trị giá US$100,000, và nhân dịp đó, bà kêu gọi xây dựng một Hiến chương cho Lòng trắc ẩn (Charter for Compassion), sau trở thành dự án tầm quốc tế, phối hợp với TED, được đai chúng cho đăng tải trên kênh trực tuyến và được các tư tưởng hàng đầu về Do Thái giáo, Ki-tô giáo, Hồi giáo, Hindu giáo và Phật giáo kiến thiết. Hiến chương này được hàng ngàn lãnh tụ tôn giáo và thế tục ký kết vào mùa thu 2009. Tác phẩm của bà được dịch ra 45 thứ tiếng. Bà hiện sống tại London.

Nhà xuất bản Văn Học Số trang: 126 trang Kích thước: 13.5×20.5 cm Hình thức: Bìa mềm Mô tả Hoàng Tử Bé – Saint-Exupery , Bùi Giáng dịch (Tái bản 2023) Mặc dù trải qua hơn 50 năm kể từ ngày xuất bản lần đầu tiên tại Sài Gòn nhưng đến nay văn phong và thần sắc trong Hoàng tử bé vẫn đầy sức quyến rũ. Trước hết vì tính cách nhân bản có sức lan tỏa lạ lùng trong nguyên tác của Saint Exupéry với mấy dòng mở đầu: “Tôi xin lỗi các bé con, vì đã đề tặng cuốn sách này cho một người lớn (…) Tôi rất muốn đề tặng cho đứa bé con mà xưa kia người lớn nọ vốn đã từng là (nó) vậy. Mọi người lớn, ban sơ, đều đã từng là những bé con (nhưng ít người trong số đó ghi nhớ điều kia). Vậy tôi xin sửa chữa lời đề tặng: Gửi Léon Werth thuở ông ta còn là bé con”. Một lẽ khác, về phía người dịch: Bùi Giáng – đã không ngần ngại hạ bút xác định: “Le Petit Prince là tác phẩm thơ mộng nhất và u uẩn nhất trong những tác phẩm của Saint Exupéry” viết về một thiên thần đi về trần gian để “dấn thân” và sau đó “chia tay bụi hồng không một lời oán hận”. Vậy tác phẩm có gì lạ mà Bùi Giáng dịch và giới thiệu trân trọng như thế. Lạ vì, trong tập sách mỏng chỉ chừng 125 trang mà đã chuyển đến bạn đọc cả “một thế giới ở ngoài trái đất”. Lạ nữa, thế giới “ở ngoài” ấy lại được kể và thể hiện bởi một hoàng tử đang “ở trong” mặt đất, trên sa mạc Sahara. Chú hoàng tử cô độc đến từ một tinh cầu xa thẳm đã gặp một phi công cũng một thân một mình đáp xuống sa mạc khi máy bay của ông ta gặp nạn, bị hỏng hóc. Thế là họ, một người lớn và một chú bé hoàng tử, đã “sống” bên nhau những thời khắc tuyệt vời và tâm cảm, nhất là chuyện chú bé thao thức vì một con cừu nào đó đã ăn mất của chú một đóa hoa hồng: “Cái điều xui ta cảm động nhất nơi Hoàng tử bé đang ngủ này, ấy là sự trung thành của chú đối với một đóa hoa, ấy là một hình ảnh một đóa hoa hồng vẫn sáng ngời ở trong người chú như một ngọn đèn, ngay cả khi chú ngủ… Và tôi nhận thấy chú còn mỏng manh hơn nữa. Phải bảo vệ những ngọn đèn: Một cơn gió có thể làm cho tắt mất”. Tắt mất đây không chỉ “tắt” sự sống ngoài thể xác, mà là “tắt” nguồn ánh sáng ban sơ trong tâm hồn của những người đang hiện diện trên “mặt đất trầm trọng và đau thương” này.

Tác giả: Jacob Samuel Speyer Biên dịch: Đỗ Quốc Bảo Nhà xuất bản Hồng Đức Số trang: 464 Mô tả GIỚI THIỆU CÚ PHÁP PHẠN NGỮ Trích, LỜI GIỚI THIỆU BẢN DỊCH SANSKRIT SYNTAX CỦA HOÀ THƯỢNG THÍCH TUỆ SỸ Các bạn học viên Phạn ngữ sau khi đã học qua hai quyển sách soạn tập và biên dịch của Đỗ Quốc Bảo — Giáo Trình Phạn Văn và Ngữ Pháp Phạn Ngữ —, và cũng đã được hướng dẫn làm các bài tập, về mặt cơ bản, hẳn đã có thể viết và đọc những đoạn Phạn văn đơn giản và chuẩn mực; trong đó cũng đã nắm vững quan hệ giữa các từ để cấu trúc thành những mệnh đề, những cú pháp, diễn tả một ý tưởng hay nhiều ý tưởng trong mối quan hệ nhân quả diễn ra trong thời gian, không gian, trong các điều kiện tâm lý, trong các trình độ tư duy, quán sát nội tâm và ngoại cảnh. Những hiện tượng này xuất hiện trong phạm vi hoạt động của các giác quan có thể được diễn tả bằng những cấu trúc cú pháp phổ thông. Thế nhưng, trong trường hợp nếu đó là những đối tương siêu nghiệm, cũng có khi được nói là những đối tượng của hiện lượng du-già, योगिप्रत्यक्षः, chẳng hạn như những vấn đề tranh luận giữa các luận sư Phật giáo cùng với các triết gia Ấn-độ, về các vấn đề về giới hạn của nhận thức, về thể tính của tồn tại, v.v.,thì với trình độ đã học qua hai tác phẩm nói trên có thể chưa đủ để hiểu sâu vấn đề. Lấy thí dụ, khi đọc bản dịch Anh ngữ Nyāya-hindu của Dharmakīrti, dịch bởi Stcherbatsky, người đọc sẽ phải gặp nhiều bối rối, nếu đối chiếu bản dịch với nguyên bản Phạn, mặc dù nhiều đoạn văn rất khó hiểu về mặt ngữ pháp Stcherbatsky vừa dịch thoát ý cho độc giả tiếng Anh, đồng thời cố dịch sát theo cú pháp Phạn ngữ trong phần cước chú. … Có rất nhiều trường hợp, hầu như không có bất cứ tranh luận nào trong và ngoài Phật giáo mà lại bỏ qua các quy tắc ngữ pháp trong các luận chứng của mình, tán thành hay không tán thành tùy theo quan điểm, xu hướng tư duy. Cho nên, người học Sanskrit tất nhiên không thể học chỉ để mà học theo thời thượng, mà bỏ qua phần cú pháp như các vấn đề được giải thích trong tập Cú Pháp Phạn Ngữ này. Trích, LỜI NÓI ĐẦU CỦA DỊCH GIẢ Quyển Cú Pháp Phạn Ngữ (CPPN) này nguyên là bản dịch Việt của quyển Sanskrit Syntax của Jacob Samuel Speyer (1849- 1913), một nhà cổ Ấn-độ học người Hà-lan. Được công bố vào năm 1886, Sanskrit Syntax không lâu sau đã trở thành một công cụ rất hữu ích cho người học Phạn ngữ tại châu Âu và vẫn còn được dùng như quyển cú pháp tiêu chuẩn cho Hoa văn Phạn ngữ (Classical Sanskrit) cho đến ngày nay. Sanskrit Syntax cùng với Altindische Syntax của Delbrück, vốn xử lí ngôn ngữ Veda, là hai quyển sách không thể thiếu cho những người học và nghiên cứu trong bộ môn Cổ Ấn-độ học. Như tôi biết thì vẫn chưa có quyển cú pháp nào được công bố sau này có thể thay thế hoàn toàn tác phẩm của Speyer ngoài những tiểu luận bổ sung chi tiết của nhiều tác giả. [1] Tầm quan trọng của Sanskrit Syntax có thể được thấy qua quyển Studies in Sanskrit Syntax, một tập hợp của các chuyên luận được công bố nhằm kỉ niệm 100 năm (1886-1986) sự ra đời của Sanskrit Syntax của Speyer, và người chủ biên là Hans Heinrich Hock. Một năm sau khi được công bố, nhà Ấn-độ học nổi tiếng người Đức là Otto von Böhtlingk, tác giả của hai bộ từ điển Phạn-Đức nổi danh (được gọi ngắn là Petersburger Wörterbuch lớn và nhỏ), đã có một mục điểm sách nói về Sanskrit Syntax của Speyer, và cũng đã phê bình, đính chính và bổ sung nó. Phần bổ sung và đính chính của ông đã được đưa trọn vẹn vào phiên bản tiếng Việt này. ________ [1] Một tác phẩm đáng được nhắc đến ở đây vì có tính chất bổ sung Cú Pháp Phạn Ngữ là Scholastic Sanskrit: A Manual for Students của Gary A. Tubbs và Emery R. Boose (2007), được biên soạn để giúp sinh viên bộ môn cổ Ấn-độ học đọc văn học chú giải ( commentary literature ) bản xứ. Quyển này thường dẫn dụng và đề cập đến Coulson, Whitney và Speyer. Cho những người bắt đầu đọc luận giải bản xứ thì không có quyển nào tốt hơn quyển này. Phần phụ lục Useful Reference Work (pp. 267-270) cũng giới thiệu một cách ngắn gọn những tác phẩm nền tảng có liên quan đến cú pháp và ngữ pháp Phạn ngữ nói chung cũng như văn học chú giải v.v. nói riêng. Trích, LỜI GIỚI THIỆU CỦA HENDRIK KERN Để đáp ứng nguyện vọng của Tiến sĩ Speyer, tôi xin được tự do giới thiệu tác phẩm của ông cho sinh viên Phạn văn. Ngữ pháp Ấn-độ mà chúng ta gần như có thể nói là ngữ pháp Pāṇini, trác việt như nó là trên nhiều phương diện so với bất cứ những gì cùng loại được trước tác ở những quốc gia văn minh cổ đại khác, lại có những khiếm khuyết hiển nhiên trong việc xử lí cú pháp. Vì tất cả các tập ngữ pháp được học giả châu Âu công bố, quy về khía cạnh sự thật ngôn ngữ, gần như hoàn toàn lệ thuộc một cách gián tiếp hoặc trực tiếp vào Pāṇini nên không gì ngạc nhiên là cú pháp không được xử lí xứng đáng trong chúng, mặc dù phải thừa nhận là bộ ngữ pháp của Giáo sư Whitney đã cho thấy một dấu hiệu tiến triển trên phương diện này. Một số thành phần cú pháp Phạn ngữ đã được xử lí kĩ lưỡng qua bàn tay của các học giả quyền năng và trong những vị này, Delbrück giữ vị trí hàng đầu. Tất cả những người đã tri ân những học giả tiên phong, như chúng ta có thể tin được, sẽ hoan hỉ tiếp nhận công trình có tính chất toàn diện hơn này, cú pháp Phạn ngữ toàn phần đầu tiên, và mang ân công sức của Tiến sĩ Speyer. Cầu mong nó là tác phẩm tiên hành của một công trình tương tự, cũng phong phú và chu đáo như thế, là cú pháp Veda! Leyden, 13 July 1886 H. Kern

Tác giả: Franz Kielhorn Soạn dịch Việt: Đỗ Quốc Bảo Nhà xuất bản Hồng Đức Phát hành: 9/2020 Số trang: 313 Mô tả NGỮ PHÁP PHẠN NGỮ LỜI GIỚI THIỆU CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH NGUYÊN GIÁC ___ “Tiếng Phạn thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, xuất hiện cách nay khoảng ba ngàn rưỡi năm. Nó hình thành một nền văn học lớn trong lịch sử cổ đại và trung đại của Ấn-độ, bao gồm mọi lãnh vực, từ tôn giáo, triết học, văn chương, cho đến, chính trị, toán học, y học, thiên văn v.v…, và có ảnh hưởng sâu rộng trong các dân tộc trên thế giới, nhất là những dân tộc thuộc vùng Đông nam châu Á. Riêng đối với Phật giáo, tiếng Phạn là một trong bốn thánh ngữ, giữ một vai trò hết sức quan trọng về mặt văn bản học. Toàn bộ kinh điển của Nhất thiết hữu bộ và Phật giáo Đại thừa đều được lưu truyền bằng Phạn văn, sau đó mới được dịch sang Hán văn hay Tạng văn. Vì vậy, để nghiên cứu nghiêm túc các thánh điển Phật giáo thuộc các văn hệ ấy, tiếng Phạn là điều kiện không thể thiếu. Ngay cả khi tụng đọc các Thánh điển Phật giáo thuộc tạng Pāli, muốn nắm chính xác ý nghĩa các thuật ngữ hay định cú trong những văn bản này, người ta không thể không truy cứu về nguồn gốc tiếng Phạn của nó. Từ đầu thế kỷ thứ 19, Phật giáo Nhật Bản ý thức vai trò quan trọng này, họ đã gửi người sang Anh và Đức để học tiếng Phạn. Chủ trương đúng đắn ấy đã giúp họ thiết lập một nền tảng vững chắc cho việc phát triển sâu rộng sự nghiệp học tập và nghiên cứu Phật giáo của Nhật Bản. Việt Nam chúng ta đã biết đến tiếng Phạn khá sớm qua việc tiếp xúc với các Nhà sư Ấn-độ đến Giao châu hoằng pháp từ thời Hùng vương. Các tư liệu Phật giáo kể lại không ít những nhà sư Việt Nam biết rành tiếng Phạn, như Khương Tăng Hội, Đạo Thanh, Huệ Thắng, Sùng Phạm, Đại Thừa Đăng v.v. Cho đến cuối thế kỷ 13, vua Trần Nhân Tông đã nhờ nhà sư Bồ-đề Thất-lợi (Bodhiśrī) dịch Kinh Lăng-nghiêm tiếng Phạn sang Hán văn. Tuy nhiên phong trào học tiếng Phạn này chưa được phát triển và quan tâm đủ mức cần thiết để phục vụ lâu dài cho việc nghiên cứu trực tiếp các thánh điển Phật giáo tiếng Phạn. Đến nửa cuối thế kỷ 19, đất nước không may lại rơi vào cuộc chiến chống ngoại xâm kéo dài gần một thế kỷ, việc học tiếng Phạn càng không được quan tâm. Mãi đến 1964, với sự ra đời của Đại học Vạn Hạnh tại Sài Gòn, tiếng Phạn mới được bắt đầu để ý trở lại trong tình trạng tư liệu học tập hết sức thiếu thốn. Giáo trình tiếng Phạn bấy giờ đã hiếm hoi, mà lại toàn bằng tiếng ngoại ngữ. Còn từ điển tiếng Phạn thì hầu như không có. Chúng tôi may mắn được học tiếng Phạn với thầy Lê Mạnh Thát vào mùa hè năm 1974. Sau này được thầy giao đảm trách dạy môn tiếng Phạn lớp căn bản cho Tăng sinh nội trú ở chùa Già Lam vào năm 1980-1984. Đến năm 2006, thầy lại nhờ tôi dạy môn tiếng Phạn cho Tăng ni sinh Khoa Phật giáo Phạn Tạng của Học Viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh. Lần này tôi có thuận duyên được anh Đỗ Quốc Bảo gửi cho bản thảo bộ Giáo Trình Phạn Văn sơ cấp gồm hai tập của Lehmann mà anh đã học qua và soạn dịch ra tiếng Việt. Tôi đã chọn giáo trình này vì thấy nó sắp xếp tuần tự từ dễ đến khó, thích ứng với trình độ người mới học tiếng Phạn, mà lại phù hợp với thời gian và chương trình học của Học viện. Đặc biệt, những bài đọc được trích dẫn từ Hitopadeśa, nhưng biên soạn lại cho ngang tầm trình độ sơ cấp, đã giúp sinh viên hứng thú học tập khi tiếp cận được tư tưởng và văn hóa Ấn-độ. Tuy nhiên, để đáp ứng những điều kiện ấy, các bài học trong phần ngữ pháp được chia thành nhiều bài tương ứng với phần bài tập, chứ không sắp xếp tập trung theo từng đề mục. Việc này sẽ gây khó khăn cho sinh viên khi cần tra cứu. Để khắc phục nhược điểm này, trước đây chúng tôi đề nghị sinh viên tham khảo cuốn Ngữ Pháp Tiếng Phạn của Thầy Lê Mạnh Thát biên soạn hay của các tác giả khác. Nay anh Đỗ Quốc Bảo biên tập và dịch sang tiếng Việt cuốn A Grammar of The Sanskrit Language của Franz Kielhorn để giúp công tác giảng dạy và học tập tiếng Phạn ở Việt Nam, với hoài bão đặt nền móng cho ngành cổ Ấn-độ học sau này tại nước nhà. Mặc dầu các thuật ngữ anh dùng trong cuốn Ngữ Pháp Phạn Ngữ này phần lớn là từ Hán-Việt, có tính hàn lâm, hơi khó hiểu đối với người mới học tiếng Phạn, cuốn ngữ pháp này, với phần bổ sung tra căn động từ theo thân và đuôi biến vị, cùng các cú pháp đặc biệt, là một tài liệu rất hữu ích và cần thiết để tra cứu khi học tiếng Phạn theo giáo trình anh đã biên dịch. Với lòng mong muốn góp phần phát triển Phật học nước nhà, phát triển việc nghiên cứu mảng văn hóa Chàm của Tổ quốc, và văn học cổ đại, trung đại của Ấn-độ, chúng tôi trân trọng ghi mấy lời giới thiệu này để tỏ lòng chân thành tán dương hoài bão của anh Đỗ Quốc Bảo, và cám ơn sự giúp đỡ quý báu anh đã dành cho chúng tôi bấy lâu nay trong công tác giảng dạy tiếng Phạn. Quảng Hương Già Lam, cuối tháng 3 năm 2020. Nguyên Giác. Quảng Hương Già Lam, cuối tháng 3 năm 2020. Nguyên Giác. LỜI NÓI ĐẦU CỦA NGƯỜI SOẠN DỊCH (trích) ___ (…) Tôi chọn A Grammar of The Sanskrit Language của Kielhorn làm quyển ngữ pháp tiêu chuẩn cho giới hâm mộ Phạn ngữ tại Việt Nam vì nhiều nguyên do. Nguyên do thứ nhất, như đã nói, là kỉ niệm 150 năm ngày ra đời của quyến sách quý báu này. Nguyên do thứ hai là tôi đã trải qua chương trình đào tạo Phạn học tại CHLB Đức và vì vậy, ngay từ lúc bắt đầu học đã làm quen với cách trình bày, giảng dạy tiếng Phạn theo các nhà cổ Ấn-độ học người Đức cũng như cách dùng thuật ngữ phân tích của họ. Song song với quyển Elementarbuch der Sanskrit- sprache (‘Sách học căn bản dành cho tiếng Phạn’) của Adolf Friedrich Stenzler (1807-1887), quyển ngữ pháp của Kielhorn – cũng chính là học trò của vị này – được xem là quyển đứng đầu tại Đức, được giới chuyên môn đánh giá rất cao. Riêng tôi đánh giá quyển này cao hơn cả quyển của Stenzler vì Kielhorn trình bày dễ hiểu và hầu như tất cả vấn đề văn phạm tiếng Phạn cổ điển mà sinh viên chạm trán trong suốt chương trình học đều được xử lí tường tận và đây cũng là nguyên do thứ ba. Ngữ Pháp Phạn Ngữ của Kielhorn có thể được xem là quyển ngữ pháp đầy đủ nhất cho tiếng Phạn cổ điển trong tất cả những quyển được công bố từ trước đến nay bằng một ngôn ngữ châu Âu. Kielhorn lấy bộ Bát thiên thư (Aṣṭādhyāyī) của Pāṇini làm cơ sở và dùng các bộ chú giải bản xứ nghiên cứu tường tận rồi sau đó mới đúc kết tất cả kiến thức này vào quyển ngữ pháp của ông. Nhiều cấu trúc văn phạm cực kì hiếm có cũng được ông đề cập đến và giải thích. (…) Trong quá trình dịch ban đầu, tôi đã cố gắng trình bày các thuật ngữ ngôn ngữ học Ấn-Âu dễ hiểu cho độc giả người Việt như có thể, cụ thể là tìm cách ‘Việt hoá’ các thuật ngữ, nhưng sau một thời gian suy nghĩ kĩ về điều này, thậm chí đã áp dụng chúng, tôi không hài lòng với kết quả và bỏ qua dự án vì tính chất bất khả thi của nó. Bất khả thi ít nhất là đối với tôi với yêu cầu không nhỏ là trình bày nội dung của một từ được chuyển tải không bị mất mát hoặc ít mất mát so với nguyên ngữ như có thể, và tôi không dừng bước ở nội dung của những từ đơn chiếc, mà là tất cả những từ, một hệ thống thuật ngữ có đủ gravi-tas để truyền đạt một cách tiền hậu nhất trí nguyên một hệ thống văn phạm đồ sộ, nếu không muốn nói là đồ sộ nhất trong các ngôn ngữ văn minh cổ trên thế giới. Tiếng Phạn có một hệ thống ngữ pháp cực kì phong phú với tính chính xác trong cách ứng dụng gần như là toán học. Cách trình bày các quy tắc ngữ pháp ta có thể so sánh với các công thức toán học dưới dạng ngôn ngữ và điều gian nan cho tất cả những người soạn dịch những tác phẩm ngôn ngữ học như tôi nằm ở việc tìm các thuật ngữ tương đương cá biệt trong tiếng Việt không bị pha lẫn nghĩa với nhau. Thế nên, điều tôi đã không tránh khỏi trong khi soạn dịch quyển Ngữ pháp này là dùng rất nhiều từ có gốc Hán-Việt với một số nghe rất lạ tai, như Hoà Thượng Thích Tuệ Sỹ có phê bình trong lời giới thiệu quyển Giáo Trình Phạn Văn. Tôi chọn và dùng chúng chỉ vì tính chính xác gần như tương đương 1:1 so với nguyên ngữ Anh và Đức vốn có gốc La-tinh. (…) Với quyển Ngữ Pháp Phạn Ngữ này (vol. II,1) tôi hoàn tất phần đầu của bộ thứ hai – tức là bộ văn phạm bao gồm Ngữ pháp và Cú pháp (II, 2) – của dự án bộ ba Phạn học sau Giáo Trình Phạn Văn (I) (*) đã được công bố. Tôi hi vọng Cú Pháp Phạn Ngữ, và bộ thứ ba là quyển Phạn-Việt Từ Điển (III) sẽ sớm được ra mắt độc giả hâm mộ Phạn học. (…) Heidelberg, mùa hè năm Canh Tí, 2020 Đỗ Quốc Bảo, PhD _______ (*) Giáo Trình Phạn Văn, Hương Tích đã phát hành tháng 5/2020.

Tác giả: Đỗ Quốc Bảo, Thomas Lehmann Nhà xuất bản Hồng Đức Phát hành: Thư quán Hương Tích Số trang: 392 Mô tả GIÁO TRÌNH PHẠN VĂN Quyển sách Giáo khoa căn bản về Ngữ pháp Sanskrit theo tiêu chuẩn Đại học của CHLB Đức, do Thomas Lehmann và Đỗ Quốc Bảo, Giáo sư, Tiến sĩ chuyên ngành Cổ Ấn-độ học Đại học Heidelberg biên soạn. Hương Tích ấn hành tháng 5/ 2020. Tác giả giữ bản quyền. ___ “… Khoảng năm 2000, tôi gặp Đỗ Quốc Bảo tại Già-lam. Biết anh đang theo học chuyên môn Sanskrit với các Giáo sư Sanskrit hàng đầu hiện tại ở Đức, tôi đề nghị anh mở lớp Sanskrit ngắn hạn, đồng thời soạn một quyển Giáo khoa Phạn ngữ thích hợp cho trình độ tăng ni sinh Việt nam. Khoá học chỉ diễn ra một thời gian cực ngắn với số học viên khá ít. Không chỉ riêng anh thất vọng, mà tôi cũng thất vọng không kém. Sau này, khi giảng Thành duy thức và Câu-xá cho một số thầy cô, tôi đã cố gắng nêu những điểm khó trong bản Hán mà nếu không biết đến ngữ pháp Sanskrit thì không thể hiểu được, với mục đích khơi dậy hứng thú học Phạn ngữ. Cụ thể như trong bài tựa Thành duy thức , Khuy Cơ sớ giải rất rõ, câu tụng “đảnh lễ Duy thức tánh” thuộc biến cách bảy (sở y/ư cách, Thuật ký: 聲境第七攝; Hán thường gọi là sở y cách 所依第七囀聲), và câu tụng “Mãn Phần thành tịnh giả” thuộc biến cách bốn (sở dữ cách, 第四囀攝,此梵本音。一切所敬皆第四囀故, Hán gọi là vị cách 第四為聲). Nếu không rõ ý nghĩa các biến cách danh từ này thì sẽ không biết “ai đảnh lễ ai ở đâu”… Cho đến khi giảng Câu-xá , do có nguyên bản Sanskrit, và các bản dịch đối chiếu từ Hán, Tạng, Nhật, Pháp và Anh, tuy vậy, dễ thấy các điểm ngữ pháp trong đó vô cùng phức tạp mà các bản Hán không thể chuyển dịch. Qua sớ giải của Yaśomitra, nhiều quy tắc từ Pāṇini được dẫn và giải, cho thấy các bản Hán nhiều khi đã phải lược qua vì không có từ hoặc khái niệm tương đương… Sanskrit thuộc loại ngôn ngữ đa âm tiết; mỗi từ được hợp thành bởi nhiều yếu tố. Các từ chuyển tải ý nghĩa của mỗi yếu tố, mặc dù được chỉ định như là từ chuyên biệt ngữ pháp, thảy đều mang nội hàm triết học, phản ảnh tư duy Ấn-độ cổ đại. Lấy ví dụ, trong các từ được gọi là động từ, nó bao gồm phần chính mà ta gọi là ngữ căn hay gốc động từ, vốn dịch Việt của từ Anh verbal root , nguyên Phạn ngữ của nó là dhātu , Hán dịch là tự giới . Cùng với tiền tố prefix của nó, và hậu tố biến hoá của nó, termination , nguyên Phạn ngữ là pratyaya , Hán dịch là tự duyên . Từ dhātu mặc dù được dùng trong phạm trù ngữ pháp ở đây vẫn phản ánh tư duy triết học như trong các luận thư Abhidharma . Nội hàm của từ dhātu mang tính triết học trong bài tụng dưới đây dẫn từ Luận Nhiếp Đại thừa (Mahā-yānasaṃgrahaśāstra) vẫn áp dụng cho từ dhātu như là động từ căn trong phạm trù ngữ pháp: anādikāliko dhātuḥ sarvadharmasamāśrayaḥ | tasmin sati gatiḥ sarvā nirvāṇādhigamo ’pi ca || Hiểu nội hàm của từ dhātu trong cả hai ngữ cảnh khác nhau này cho thấy mối quan hệ mật thiết trong tư duy triết học và tư duy ngôn ngữ học. Ý nghĩa này càng được thấy rõ tầm quan trọng khi trong nhiều Kinh đức Phật truy nguyên gốc của một từ thông dụng từ dhātu của nó… Một ít thí dụ dẫn trên chỉ muốn cho thấy các từ chuyên biệt của ngữ pháp đều phản ánh những tư duy triết học. Đây là điểm khó cho biên soạn Giáo trình cũng như Ngữ pháp Sanskrit bằng ngôn ngữ phương vực của mình. Các nhà Phạn học phương Tây khi biên soạn các sách ngữ pháp Sanskrit đã không thể tìm thấy những từ chuyên biệt ngữ pháp Sanskrit tương đương trong kho từ vựng ngữ pháp, mà chỉ mượn một số từ trong từ vựng ngữ pháp La-tinh xem là tương đương, chỉ về mặt hình thức và kỹ thuật. Dù vậy, số từ vựng được xem là tương đương này vẫn không đủ, so với kho từ vựng ngữ pháp Sanskrit phong phú. Về phần tiếng Việt, hầu hết từ vựng ngữ pháp trong hiện tại phần lớn chỉ tìm thấy những từ thông dụng dịch từ các ngôn ngữ Anh hay Pháp, số lượng thật nghèo nàn. Trong nhiều thảo luận với Đỗ Quốc Bảo về vấn đề này, tôi biết anh đã dụng công quá nhiều để có thể giúp người học có một kiến thức cơ bản từ vựng ngữ học Sanskrit để sau đó khả dĩ đi sâu vào các văn bản Phật giáo, từ các Kinh Phật thuyết cho đến các luận thư Abhidharma. Làm được điều này, đòi hỏi soạn giả phải thông thạo tiếng Việt có vốn liếng từ Hán căn bản, và nhất là nắm vững ý nghĩa các từ chuyên biệt ngữ pháp trên cơ sở tư duy triết học. Cái gọi là “tiếng Việt thuần tuý”, từ chối tất cả có gốc Hán, hầu như chỉ là sáo rỗng. Người Nhật cũng học Hán, chịu ảnh hưởng văn minh Hán tộc, nhưng qua lịch sử phát triển, đã thâu thái thành bản sắc cá biệt của mình. Khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, họ thấy nhiều từ trong các lãnh vực khoa học, kinh tế, tôn giáo trong các ngôn ngữ phương Tây khó tìm thấy tương đương trong kho từ vựng Hán đã được Nhật hoá. Họ đã tạo thêm những từ mới vay mượn các từ Hán cổ để dịch các từ như philosophy , hay economy/ economics …, thành các từ Nhật bằng Hán tự gọi là kanji như triết học, kinh tế… Người Hoa hiện tại vẫn phải dùng các từ này, vốn không là những từ sáng tạo của Hán tộc, mà của người Nhật. Vậy thì, chúng ta dùng các từ Hán cổ để dịch những từ Sanskrit mà trong kho ngôn ngữ Việt hoặc thuần giống hoặc Việt hoá từ Hán trong chừng mực có thể gần với nội hàm của từ Sanskrit được hiểu trong phạm trù ngữ pháp mà cũng không làm mất đi tư duy triết học trong đó. Đây là điều mà tôi cảm nhận Đỗ Quốc Bảo đang cố gắng. Nhiều từ anh dùng trong các tập Giáo trình và Ngữ pháp Sanskrit có thể rất lạ tai với các học viên hay độc giả vốn chỉ quen với các từ ngữ pháp trong tiếng Anh hoặc Pháp. Trong thực tế, một từ mới phát sinh trong các quan hệ xã hội, nếu nó phản ánh được trạng thái tồn tại cũng như mối quan hệ xã hội giữa người và người, nó sẽ sống và phát triển lâu dài. Nếu nó không phản ánh được như vậy, chỉ trong một thời sẽ bị quên lãng, hoặc biến mất. Cho nên, nhiều từ ngữ pháp trong tập ngữ pháp này cũng rất lạ tai đối với tôi, nhưng tôi vẫn sẵn sàng chấp nhận. Cho đến khi nếu tôi cảm thấy, hay tìm thấy từ nào khác hơn có thể thay thế, tôi sẽ đề nghị thay thế. Vậy tôi mong tập sách này sẽ giúp những vị có nhiều cảm hứng trong việc học Sanskrit không chỉ dừng lại ở cảm hứng đối với ngôn ngữ kỳ diệu Sanskrit, mà từ căn bản này đi sâu vào tư duy triết học trong Phật học, và có thể rộng hơn nữa, khuynh hướng tư duy triết học Ấn cổ đại.” Thị ngạn am, đầu xuân Canh Tý, 2020 Tuệ Sỹ

Mô tả Tiếng Phạn là một ngôn ngữ chính phát triển về phía đông của ngữ hệ Ấn – Âu và hình thành nên một nền văn học lớn có ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều dân tộc trên thế giới đặc biệt là các dân tộc thuộc miền Đông Nam Châu Á như: Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Campuchia, Nam Dương, Phù Nam, Chiêm Thành… Tiếng Phạn xuất hiện sớm nhất cách đây trên ba ngàn năm trăm năm với những từ lần đầu tiên có mặt trong một văn bản dạy về thuật cưỡi ngựa của tiếng Hit-ti, tìm thấy tại vùng Anatolia của nước Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Đến thế kỷ chúng ta, do điều kiện giao lưu với toàn thế giới được mở rộng, việc học tập, nghiên cứu các vùng đất trước đây chịu ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ như Chiêm Thành, thủy Chân Lạp mà ngày nay đã trở thành một bộ phận không thể phân ly của Tổ quốc cùng với việc nghiên cứu kinh điển Phật giáo và văn học Ấn Độ, được tiến hành rộng rãi và qui mô, nên trước mắt phải có một bộ Ngữ pháp tiếng Phạn để phục vụ cho yêu cầu học tập và nghiên cứu. Vì thế, chúng tôi cho tập hợp lại giáo tài bộ mô Phạn văn do chúng tôi giảng dạy tại đại học Vạn Hạnh trong nhiều năm sơ bộ chỉnh lý và soạn thành cuốn ngữ pháp tiếng phạn mà quí vị đang có. Vạn Hạnh, mùa hè 1999 Lê Mạnh Thát

Tác giả: Võ Quang Nhân Hiệu đính: Tuệ Sỹ Nhà xuất bản Hồng Đức Phát hành: Thư quán Hương Tích Kích thước: 14×20,5 cm Số trang: Phần 1: 448; Phần 2: 460 Ngày xuất bản: Phần 1: 2018; Phần 2: 2023 Mô tả GIỚI THIỆU PHẦN II: Đây là phần II sách, dày 460 trang, nhiều hình ảnh sưu tập. Phần I đã được Hương Tích phát hành năm 2018. Một biên khảo công phu với nhiều tư liệu, theo chuẩn học thuật quốc tế khiến mất tới gần 4 năm để tác giả hoàn thành. Và như tên gọi, phần này sách giới thiệu các Truyền Nhân của Nālandā: về tiểu sử, giai thoại & tác phẩm của 17 Đại hành giả truyền thừa , mà đứng đầu, tất nhiên, là Ngài Long thọ (Nāgārjuna), với phương pháp Tứ phân phản biện. Tiếp theo, Ngài Thánh Thiên (Āryadeva) với Đại Đường Tây Vực Ký. Và các Ngài Phật Hộ (Buddhapālita), Thanh Biện (Bhāvaviveka), Nguyệt Xứng (Candrakīrti), Tịch Thiên (Śāntideva), Thế Thân (Vasubandhu)… với các tác phẩm liên quan. Giới thiệu của Đức Dalai Lama thứ 14. Tôi thật sự đánh giá cao tập sách Việt ngữ này về lịch sử đại học Nālandā kỳ vĩ của Ấn-độ. Đại học Nālandā là học viện cơ sở chính nuôi dưỡng sự lớn mạnh của truyền thống Phật giáo Sanskrit. Nhiều đại học giả, mà các luận giải có tầm ảnh hưởng sâu rộng của họ đến hôm nay vẫn sống còn đến nay trong tiếng Sanskrit hay trong các dịch thuật Tây Tạng, đã học và dạy tại Nālandā. 17 vị học giả được đề cập trong bài kệ xưng tụng do tôi soạn thảo: ‘Tam Tín Quang Chiếu: Lời Hướng Nguyện Lên 17 Đại Trí Giả của Nālandā Vinh Quang’ vốn là các giáo sư của Nālandā. Một trong các đặc trưng nổi bật về đại học này là việc sử dụng luận lý học và bản thể học cũng như vai trò của nó trong việc bàn thảo và tranh luận. Những chứng liệu cho thấy rằng các học giả đã tranh luận về nhiều loại quan điểm triết học tại Nālandā, và rằng các tranh luận xảy ra giữa họ đã kiến tạo và kích thích cho việc hiểu biết sâu rộng hơn. Một đặc trưng nổi bật khác về đại học Nālandā là tính quốc tế của nó. Danh tiếng của trường đã thu hút nhiều học giả háo hức từ phương xa. Chúng ta có các chứng liệu rõ ràng về những tăng sinh và học giả từ Tây Tạng và Trung Hoa đến để học tập tại Nālandā; ảnh hưởng của nhà trường dường như đã lan rộng đến tận Indonesia và Trung Á. Những lúc gần đây, tôi đã tự nhận trách nhiệm khuyến khích, cổ vũ sự phục hồi các tri thức cổ Ấn-độ trong (một xã hội) Ấn-độ hiện tại. Tôi tin rằng sự kết hợp hiểu biết về sự vận hành của tâm và xúc cảm với nền giáo dục hiện đại có thể sẽ mang lại lợi ích to tát trong thế giới mà chúng ta đang sống hôm nay. Tập sách về Nālandā này sẽ là một nguồn cảm hứng trong việc theo đuổi mục tiêu này. (Thủ ký của Thánh đức Dalai Lama) – Ngày 10 tháng 9 năm 2018.

Sách khổ 12cm x 20cm, dày 157 trang mua trực tiếp tại Thư Quán Hương Tích giảm 10% Mô tả Nguyên tác: Hermann Hesse Thích Nữ Trí Hải dịch … Tất cả thực tại rộn ràng đó chỉ là một giấc chiêm bao. Vậy thì có lẽ chàng cũng đã chiêm bao tất cả những gì xảy ra trước đấy, những chuyện về hoàng tử Dasa, về cuộc đời du mục, về cuộc hôn nhân, về việc báo thù, về sự ẩn náu của chàng bên vị ẩn sĩ. Tất cả những việc nàỵ đều là những hình ảnh mà người ta có thể ngắm trên bức tranh chạm trố của một lâu đài; ở dấy hoa, tinh tú, chim, khỉ, và những thiên thần có thể được trông thấy giữa khóm lá. Và những gì chàng đang nếm trải ngay lúc này, những gì chàng thấy trước mắt sau khi tỉnh dậy từ chuyện làm vua, chuyện chiến tranh và bị cầm tù, những gì chàng thấy trong khi đang đứng bên bờ suối, cái bầu nước chàng vừa làm đổ một ít, cùng với tất cả những gì suy tư của chàng về mọi sự, phải chăng tất cả cũng đều là một thứ mộng huyễn như nhau? Đó không phải là ảo tưởng, là Maya sao? Tất cả đều là trò chơi, là giả huyễn, là bọt nước, là chiêm bao, là mộng huyễn, Maya.

Tác giả: Tuệ Sỹ Phát hành: Hương Tích; Nxb Đà Nẵng Số trang: 116 Khổ: 13×19,2 cm Mô tả Người đi đâu bóng hình mòn mỏi Nẻo tới lui còn dấu nhạt mờ Đường lịch sử Bốn nghìn năm dợn sóng Để người đi không hẹn bến bờ. (Giấc mơ Trường Sơn) — GIẤC MƠ TRƯỜNG SƠN – Thơ TUỆ SỸ An Tiêm xuất bản lần đầu, Paris – San José 2002 In lần hai tại Australia Hương Tích Phật Việt tái bản tại Hoa Kỳ 2014, có hiệu chỉnh. Thư quán Hương Tích ấn hành lần đầu tại Việt Nam: 2022. ĐẶNG TRẦN QUÝ (trích “Viếng Thị Ngạn Am” ): “Tôi quay sang nhìn Thầy, Thầy vẫn như ngày nào tôi đã một đôi lần diện kiến từ thời tuổi trẻ đến trường, vẫn vóc dáng gầy guộc nhẹ nhàng, vẫn nụ cười trong sáng song hành cùng đôi mắt… Thầy vẫn thế, thong dong một cõi, an nhiên tự tại trước những bon chen danh vọng, thị phi đời thường. Tôi bỗng nhớ đến tập thơ “Giấc mơ Trường Sơn” của Thầy, tập thơ tuy bé nhỏ nhưng đã gửi gấm biết bao xúc động của nhà thơ Tuệ Sỹ trong cả một quãng đời dài, nhớ đến các bài thơ đã diễn đạt những tâm tình của Thầy về cuộc trường sinh? Những khi lên rừng, giã từ nghiên mực để cầm cuốc làm rẫy, lo cuộc mưu sinh? Rồi trở về thành thị giam mình trên gác vắng, rồi lại lên rừng đi tù… Nhưng Thầy đã nói gì đâu, như vạn vật có nói gì đâu mà cuộc sống thì có bao giờ ngưng nghỉ?”. Biên tập – Dàn trang: Hạnh Viên Bìa: Uyên Nguyên Tranh bìa & các phụ bản: Đinh Cường, Dom De Miscault

Mô tả Các văn sĩ trí thức của miền Nam một thời lần lượt xuất hiện trong tập sách Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng, vừa ra mắt của sư ông Thích Phước An – người cuối cùng của thế hệ tao nhân mặc khách còn bám trụ nơi đồi Trại Thủy – Nha Trang Tập sách chính là dịp may hiếm có để bạn đọc ngày nay diện kiến các nhân vật từng là “sao” trong giới trí thức miền Nam: Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Quách Tấn, Tuệ Sỹ, Võ Hồng, Hoài Khanh, Nguyễn Đức Sơn… Ở Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng , tác giả Thích Phước An đã từ chỗ trân trọng mối duyên bút mực trên nền suy tư của đạo lý, của tư tưởng… viết ra như một cách trải lòng cùng những người bạn thiết. Nhờ vậy, người đọc hôm nay như tự thấy mình được cùng trở về với không gian của một thời bình yên trong tao loạn, về với những tấm lòng gắn bó sắt son giữa lúc quê hương tan rã, về với những tư tưởng vượt thoát khỏi nhu yếu đời thường… Về, bắt gặp Tuệ Sỹ không chỉ là một tâm hồn thơ “thâm viễn u u” như cách nói của Phạm Công Thiện. Mà Tuệ Sỹ trong mối thâm tình với tác giả ở đồi Trại Thủy có chất men của chữ nghĩa thánh hiền, có nguồn nước của triết lý Phật giáo, có ngọn lửa nhập thế và cả tinh thần trầm tư mà quyết liệt chọn cho mình một cách sống trước biến động của quê hương. Đọc Thích Phước An, cảm giác như những người bạn của ông đã phiêu dạt tận nơi nào, đóng góp và dấn thân, tiến thoái và thành bại tận đâu đâu… Duy chỉ còn nhà sư tuổi ngày một cao ngồi nơi đồi Trại Thủy, tỉ mẩn lần giở tàng thư và lần giở từng dòng hồi tưởng, để viết lại những gì sâu lắng nhất. Đó là Quách Tấn trong mối quan tâm về những huyền thoại khai sơn lập địa tạo thành nơi chôn nhau cắt rún của dân quê. Là Phạm Công Thiện uyên áo một bộ óc suy tư và thâm thúy một tấm lòng dâng cả cho quê hương đất nước. Là Hoài Khanh trong cuộc lữ của đời mình đã tình nguyện vướng vào nhiều mảnh đời khác nữa, để rồi cảm nhận về thân phận khiến ông buột ra câu thơ tuyệt tác: “Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng / Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu”. Là Võ Hồng với những thao thức về quê hương, người tha thiết muốn nắm bắt cho kỳ hết những nét đẹp của quê hương để đem vào tác phẩm chia sẻ cho người đời… Đọc, rồi trộm nghĩ cái nỗi niềm thao thức trong những người trí thức như ở sách này chẳng biết ngày nay có còn không? Cảm thức quê hương đến mức thấy quê nhà thiêng liêng như Phạm Công Thiện đến nay có còn ai chia sẻ? Bùi Giáng với cuộc đời và tác phẩm quyện nhau thành ngọc quý, hiện giờ có ai bước tiếp được chăng?… Trong lúc mọi thứ đang dường như bị sa mạc hóa từ nhiều phía, người có tấm lòng kết nối với tiền nhân qua tư tưởng và ngữ nghĩa văn thơ như sư thầy Thích Phước An là trường hợp quý lạ. Vậy mà có lúc, cũng không giấu được nỗi đớn đau trước thực tại hiện tiền: “ngày nay, nền văn minh hiện đại đã cung cấp cho chúng ta nhiều thú vui thấp hèn quá, nên dường như tâm hồn của chúng ta đã nguội lạnh…”. Phải chăng điều ấm áp còn lại chỉ có thể tìm trong những trang sách, với rất nhiều tâm sự về học giới một thời không dễ gì có được. Lam Điền / Theo Tuoitre.vn

Tác giả: Hermann Hesse Dịch giả: Phùng Khánh, Phùng Thăng Nhà xuất bản Hồng Đức Kích thước: 12×19 cm Số trang: 197 Ngày xuất bản: 07/2019 Mô tả Hermann Hesse sinh năm 1877, được giải thưởng Nobel Văn chương 1946, tác giả nhiều tập thơ và nhiểu cuốn tiểu thuyết bất hủ như Peter Camenzind (1904), Demian (1919), Der Steppemvolf (1972), Narziss und Goldmund (1930), Das Glaserlenspiel (1943). Tất cả tác phẩm của Hermann Hesse đều nói lên niềm cô đơn tâm linh của con người thời đại, nỗi thao thức triền miên của những tâm hồn khát khao đi tìm một chân trời mới cho mình và nhất là những nỗ lực vô hạn để vươn lên mọi ràng buộc của thân phận làm người. Trọn tác phẩm của Hermann Hesse là lời thánh ca bay vút lên chín tầng trời, vọng lên nỗi đau đớn vô cùng của kiếp sống và lòng hướng vọng nghìn đời của con người, dù bơ vơ bất lực mà vẫn luôn luôn tha thiết đi tìm giải thoát ra ngoài mọi giới hạn tầm thường của đời sống tẻ nhạt: “Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này’’ Khi viết dòng thơ trên phải chăng Hermann Hesse đã muốn nói lên tất cả ý nghĩa của sự nghiệp văn chương ông giữa cơn biến động phũ phàng của thời đại? Ý nghĩa thâm trầm ấy cũng bàng bạc trong quyển Câu chuyện dòng sông. Đọc Câu chuyện dòng sông, chúng ta sẽ thấy rằng cuộc đời đáng sống và chứa đựng muôn ngàn hương sắc tuyệt vời, mà chúng ta thường bỏ quên và đánh mất giữa đời sống thường nhật. Câu chuyện dòng sông là câu chuyện của mỗi người trong chúng ta: đó cũng là hình ảnh muôn thuở của trần gian và của mộng đời bất tuyệt.

Nhà xuất bản Văn Học Số trang: 263 trang Hình thức: Bìa mềm khổ: 13,5x20cm