Theo dòng chảy lịch sử, thời Hậu Lê cho đến thời Tây Sơn mang trong mình các phong cách kiến trúc và mỹ thuật của nhiều giai đoạn. Sơ bộ, ta phân ra phong cách mỹ thuật các thời kỳ Lê Sơ, thời Mạc, thời Lê Trung Hưng (vua Lê chúa Trịnh), thời Lê Mạt (Trịnh Nguyễn phân tranh), cuối cùng là thời Tây S
Theo dòng chảy lịch sử, thời Hậu Lê cho đến thời Tây Sơn mang trong mình các phong cách kiến trúc và mỹ thuật của nhiều giai đoạn. Sơ bộ, ta phân ra phong cách mỹ thuật các thời kỳ Lê Sơ, thời Mạc, thời Lê Trung Hưng (vua Lê chúa Trịnh), thời Lê Mạt (Trịnh Nguyễn phân tranh), cuối cùng là thời Tây Sơn. Trong phạm vi bài viết này, nội dung nghiên cứu đi sâu vào kiến trúc Phật giáo thời Lê Sơ và thời Mạc.
– Tình hình phát triển Phật giáo
a. Thời Lê Sơ:
(1428 – 1527) Sau cuộc chiến ròng rã 10 năm, cuộc kháng chiến chống quân Minh đã đi đến thắng lợi hoàn toàn. Ngày 15/4 năm Mậu Thân, Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàng đế mở ra triều đại nhà Lê. Nhà Lê trị vì đất nước 99 năm và trải 10 đời vua gồm:
Nhà nước phong kiến Lê Sơ được thành lập trong bối cảnh nền văn hóa bị hủy hoại nghiêm trọng, xã hội đầy rẫy những khó khăn. Hai mươi năm giặc Minh đô hộ, những công trình Phật giáo nổi tiếng một thời như chùa Long Đọi, tháp Chương Sơn… đều bị phá hủy. Trong bối cảnh hệ tư tưởng thống trị của triều đình thời Lê Sơ là Nho giáo, Phật giáo cùng các tôn giáo khác lâm vào cảnh tưởng chừng như suy tàn.
Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống và là nền tảng để xây dựng mọi thể chế chính trị và xã hội. Thời kỳ đầu, nhà nước ngăn cấm việc dựng chùa, đúc chuông, tạc tượng mà đẩy mạnh xây dựng cung điện đền đài, lăng mộ, văn miếu… mang nặng tư tưởng Nho giáo. Do đó thời gian này kiến trúc Phật giáo không phát triển. Kiến trúc được xây dựng phổ biến là kiến trúc cung đình, đình làng (ra đời và phát triển rầm rộ theo thiết chế Khổng giáo) và kiến trúc lăng mộ… Dưới thời Lê Thánh Tông, năm 1461 ban hành sắc lệnh “chùa quán nào không có ngạch cũ thì không được tự tiện làm mới”. Thời Lê Sơ, muốn làm tăng nhân, nhà sư phải thi nhiều cuộc thi tuyển chọn lựa, phải làu thông kinh sử và tuổi tác trên 50. Những cấm đoán của nhà nước như ban hành các đạo luật hạn chế Phật giáo, hạn chế xây dựng chùa chiền và phát triển tăng lữ khiến các ngôi chùa lớn khó có điều kiện ra đời. Tuy nhiên, đạo Phật với sức sống mãnh liệt vẫn được quần chúng và một bộ phận tầng lớp trên tin theo. Các nhà vua như Lê Thánh Tông vẫn vịnh cảnh chùa với các bài thơ tuyệt bút vịnh chùa Trấn Quốc, chùa Pháp Vân… Các lễ hội tâm linh như rước Tứ Pháp vẫn được tổ chức. Chùa chiền vẫn là nơi sinh hoạt của tín ngưỡng dân gian, đạo Phật đã hòa chung vào dòng chảy văn hóa dân tộc không thể tách rời.
b. Thời Mạc:
(1527 – 1592) Sau một thế kỷ tồn tại, nhà nước Lê Sơ với hệ tư tưởng Nho giáo đã suy yếu hoàn toàn. Mạc Đăng Dung, một cận thần có thế lực lên ngôi vua, lập ra triều đình nhà Mạc, một giai đoạn mới đầy biến động được mở ra trong lịch sử. Nhà Mạc trải năm đời vua kéo dài 65 năm, năm 1592 rút lên Cao Bằng và suy tàn hẳn vào năm 1677. Năm đời vua gồm Mạc Đăng Dung (1527-1529), Mạc Đăng Doanh (1530-1540), Mạc Phúc Hải (1541-1546), Mạc Phúc Nguyên (1546-1561) và Mạc Mậu Hợp (1562-1592).
Từ thời Mạc, Nho giáo không còn giữ vị trí độc tôn nữa, nhà Mạc tuy vẫn lấy hệ tư tưởng Nho giáo làm chính thống nhưng không hạn chế những tư tưởng phi Nho khác. Kiến trúc Phật giáo bắt đầu có những dấu hiệu hồi sinh sau trăm năm bị hạn chế dưới nhà nước Lê Sơ. Sự lớn mạnh của Thiền tông và các tông phái khác được du nhập rầm rộ trong thời kỳ này đã khiến kiến trúc có nhiều thay đổi đáng kể. Hàng trăm công trình chùa tháp được tu sửa và làm mới thời kỳ này (theo số liệu thống kê của Viện Mỹ thuật là 142 chùa) nhưng con số thực tế còn lớn hơn nhiều.
Các công trình tôn giáo tín ngưỡng bị cấm đoán dưới thời Lê Sơ được khởi sắc trở lại. Đạo Phật trong giai đoạn này phát triển rộng khắp, chủ yếu trong quần chúng nhân dân. Phật giáo mang tư tưởng bác ái, làm điều lành, tránh điều dữ và có những hòa đồng nhất định với các tôn giáo khác đã thỏa mãn được nhu cầu và phù hợp với tư tưởng của nhân dân. Càng về cuối thời Mạc, trong bối cảnh nội chiến liên miên, số lượng chùa chiền được tu sửa càng nhiều, điều này cho thấy nhu cầu thờ cúng Phật giáo là một sinh hoạt tinh thần vô cùng quan trọng và cần thiết ở nông thôn Việt Nam thời bấy giờ. Một số quý tộc thời Mạc đã đóng góp tiền của tu sửa chùa chiền như tu sửa chùa Phổ Minh (Nam Định), làm chùa Nhân Trai (Hải Phòng), Trà Phương (Hải Phòng), Bối Am… Nhiều ngôi chùa làng được xây dựng và trùng tu như chùa Thượng Trưng, chùa Hạ (Vĩnh Phúc), chùa Nành (Hà Nội), chùa Ða Tốn (Gia Lâm), chùa Bối Khê (Hà Tây), chùa Hương Trai (Hà Tây)…
– Những công trình Phật giáo tiêu biểu
Chùa chiền trong thời Lê Sơ không được dựng mới nhiều nhưng vẫn được trùng tu tôn tạo. Năm 1434, triều đình cho làm lại chùa Báo Thiên, đại thần Lê Sát tổ chức xây chùa Thanh Đàm và Chiêu Đô (rộng hơn 90 gian). Đời Hồng Đức (1470-1479), vua Lê Thánh Tông mở mang chùa Minh Độ (Hưng Yên). Năm 1499 tu sửa chùa Thầy (Hà Tây) và để lại bệ tượng vua Lý Thần Tông với các hình chạm sóng nước, rồng mây xen kẽ hình con tiện ảnh hưởng phương Bắc… Theo văn bia để lại, chùa làng thời kỳ này cũng được nhân dân quyên góp tu sửa như chùa Kim Liên (Hà Nội) năm 1445, chùa Đại Bi (Bắc Ninh) năm 1490, chùa Vô Vi (Hà Tây) năm 1515, chùa Bối Khê (Hà Tây) năm 1515… Dấu tích mỹ thuật thời Lê Sơ còn lại trên các chùa rất ít ỏi, có nơi lưu giữ được bia (như chùa Kim Liên, Bối Khê), có nơi thì những thành phần kiến trúc tu sửa của thời kỳ sau đã thay thế hầu hết. Những di vật đáng giá về kiến trúc Phật giáo hiện còn là tháp đá Huệ Quang, vốn có từ thời Trần được đại trùng tu thời Lê Sơ, bệ tượng bằng gỗ chùa Thầy…
Các ngôi chùa khởi dựng trong thời kỳ này hầu hết là những ngôi chùa được dựng nên ở các làng xóm nông thôn, ít có công trình lớn do nhà nước đứng ra xây dựng. Tuy nhiên, cũng hiếm các công trình xây mới hoàn toàn mà thường là trùng tu hoặc làm lại. Những di tích, công trình khởi dựng hoàn toàn còn dấu tích của thời Mạc đến nay còn rất ít, cho nên bài viết có đề cập thêm một số di tích có niên đại xây dựng sớm hơn còn lưu giữ được di vật từ lần trùng tu trong thời Mạc.
+ Chùa Cập Nhất (Hưng Yên) niên đại trùng tu thời Mạc năm 1530 và 1536. Còn lưu giữ được một số mảng chạm trang trí đề tài rồng, mây lửa tại Thượng Điện, pho tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn bằng gỗ cao 80cm.
+ Chùa Cói (Vĩnh Phúc) công trình bị phá hủy trong chiến tranh nhưng chúng ta còn lưu giữ được tư liệu ảnh và đạc họa năm 1939 của Trường Viễn Đông Bác Cổ, giúp hình dung toàn bộ kiến trúc ngôi chùa thời kỳ này.
+ Chùa Hội Hạ (Vĩnh Phúc) lưu giữ được tượng Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay. Đây được coi là pho tượng đẹp tiêu biểu cho nghệ thuật thời Mạc.
+ Chùa Đông Ninh (Hải Phòng) kiến trúc hiện nay mới hoàn toàn, di vật thời Mạc còn thành bậc đá trước nhà Tiền Đường với trang trí hai hình sấu, hai thành bậc hai bên chạm mây và sóng nước.
+ Chùa Hòa Liễu (Hải Phòng) còn thành bậc chạm rồng, ba pho tam thế, hai pho Ngọc Hoàng, một pho Quan Âm và Tổ bằng đá. Ngoài ra, động bên phải chùa có một pho tượng bằng đá cũng từ thời Mạc.
+ Chùa Ngo (Hà Tây) được trùng tu lớn thời Mạc còn tòa Thượng Điện 1 gian hai chái, dấu vết còn lại ở 3 đầu dư và 2 đầu bẩy. Chùa có một số tượng đất sét đã hư hỏng, và tấm bia dựng năm 1589.
+ Chùa Nhân Trai (Hải Phòng) niên đại năm 1590, còn lưu giữ các di vật sau: 2 thành bậc đá hình rồng và 4 thành bậc mây xoắn, tượng Ngọc Hoàng và bia đá.
+ Chùa Trà Phương niên đại năm 1562 (Hải Phòng) còn lưu giữ phù điêu đá tương truyền là bà Nguyễn Thị Ngọc Toàn, vợ vua Mạc Đăng Dung, tượng đá vua Mạc Đăng Dung, 5 bệ tượng Phật, một bia đá lập năm 1562 và hai đôi sấu đá đặt ở nhà bia.
+ Chùa Thượng (Hà Tây) cuối thế kỷ 16, còn một số vì kèo tại Tiền Đường với những mảng chạm đánh vật, mây xoắn và hươu, hai thành bậc đá chạm hình lân.
Một số chùa thực chất là quán đạo như chùa Mui (Hà Tây), lưu giữ được tòa Thượng Điện với các trang trí mang dấu ấn thời Mạc, là công trình có bộ mái duy nhất từ thời Mạc đến nay. Chùa Sổ (Hà Tây) lưu giữ được nhiều gạch trang trí hoa văn, một số điêu khắc đầu dư chạm rồng, tượng Ngọc Hoàng và bia đá dựng năm 1590.
Nhiều chùa thời Lý Trần lưu giữ được một số di vật qua lần trùng tu thời Mạc nhưng không còn nhiều như chùa Chúc Thánh (Hà Tây), còn lưu được các viên gạch trang trí thời Mạc, tượng Quan Âm và bia. Chùa Dâu còn bộ tượng Tam thế, chùa Bối Khê (Hà Tây) còn tượng quan âm, tượng hậu Phật và vài mảng chạm gỗ kiến trúc. Chùa Dương Liễu (Hà Tây) còn 3 vì kèo gỗ ở tòa Thiêu Hương. Chùa Đậu (Hà Tây) có từ thời Lý Trần và được trùng tu lớn vào thời Mạc, di vật hiện còn một số thành phần kiến trúc tại tòa Tiền Đường và ván bưng tầng 2 gác chuông, một số gạch trang trí hình con thú, lá cây. Chùa Phổ Minh còn cây tháp đất nung sau chùa, tượng bà chúa Mạc. Chùa Tổng (Hà Tây) còn ba bộ tam thế gỗ, bia đá ghi rõ đợt đại trùng tu năm 1579. Chùa Thầy (Hà Tây) còn lưu được một vài bộ phận chạm khắc ở vì kèo tòa Thiêu Hương, khám thờ Từ Đạo Hạnh, ba pho Tam thế (được coi là điển hình cho tượng Tam thế thời Mạc) và bia đá năm 1538. Chùa Trăm Gian (Hà Tây) còn bệ tượng Tam thế đất nung lớn trang trí cánh sen, chim thần garuda, trang trí các đề tài rồng, lân, hổ, voi và hoa lá… Chùa Vĩnh Phệ (Hà Tây) còn một số mảng chạm trên đầu dư, ván rốn nhện và trụ giá chiêng, hai bệ tượng Phật bằng gỗ và hai bia đá lập năm 1578 và 1589.
– Đặc điểm kiến trúc
Mặc dù có một phong cách mỹ thuật Lê Sơ với những đặc trưng so với các thời kỳ khác, nhưng do biến động xã hội và chính sách nhà nước đã khiến cho kiến trúc Phật giáo không có tiếng nói mỹ thuật và kiến trúc thời kỳ này. Như vậy, về mặt kiến trúc Phật giáo, các công trình thời Lê thực chất là không có nhiều và không đủ tư liệu để xác định được những nét đặc trưng kiến trúc. Do đó phần này, bài viết tập trung nghiên cứu về kiến trúc và đặc điểm kiến trúc Phật giáo thời Mạc.
Trong các ngôi chùa thời Mạc còn lại đến ngày nay thì kiến trúc bị chắp vá nhiều, thời gian và chiến tranh làm cho các công trình có giá trị đã bị hủy hoại. Chỉ dựa vào văn bia, khám thờ, tượng tròn mà các nhà nghiên cứu xác định được niên đại thời Mạc cho phần nhiều di tích. Một vài di tích còn giữ được một số mảng chạm khắc như chùa Giám (Hưng Yên), chùa Nhân Trai (Hải Phòng). Những ngôi chùa còn dấu tích kiến trúc nhiều nhất là một gian Thượng Điện như chùa Ngo (Hà Tây), chùa Bà Tấm (Hà Nội), chùa Cói (Vĩnh Phú), tòa Thiêu Hương chùa Đông (Hà Tây). Chùa Cói, ngôi chùa đã bị phá hủy trong chiến tranh nhưng rất may chúng ta đã lưu giữ được các bản vẽ tương đối đầy đủ góp phần phác họa hoàn chỉnh điện mạo kiến trúc chùa thời Mạc.
+ Vị trí, thế đất
Các công trình chùa thời Mạc chủ yếu vẫn tập trung và phát tiển ở đồng bằng Bắc Bộ (nhất là ở Hưng Yên, Hải Phòng), dọc các triền sông Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, rồi Hà Nội. Sau đó là những vùng ven biển vào tới Thanh Hóa (3 chùa), Nghệ An (3 chùa). Di tích thời Mạc gặp được ở trên diện rộng chứng tỏ vai trò của người Kinh được phát triển ở một địa bàn rộng hơn. Nhiều di tích của thế kỷ 16 đã được mở rộng hơn ra các hải đảo, ven biển, ven sông, tập trung quanh các trung tâm văn hóa kinh tế thời đó, đồng thời có xu hướng phát triển về phía trung du và miền núi. Như vậy, trong nhà Mạc, thời kỳ thương nghiệp phát triển, các đường sông lên đến các miền trung du, miền núi hay ven biển đã mở ra những con đường giao thông thủy, đồng thời cũng mở ra những vùng đất mới xây dựng kiến trúc Phật giáo.
Các pho tượng và di vật cổ thời Mạc cũng được tìm thấy dọc triền sông Hồng, sông Đáy và các chi lưu. Điều này cho thấy, ngôi chùa luôn được ưu tiên xây dựng gần nguồn nước, gần đường giao thông thuận tiện thời đó. Ngôi chùa vốn trước đây gắn liền với những nơi hành lễ nghiêm trang, trở về hòa nhập với xóm làng, gắn bó với người nông dân lao động. Các khu đất được chọn xây dựng chùa rộng rãi, thoáng đãng không xa khu dân cư. Điều này là một trong những nguyên nhân phát triển kiểu kiến trúc “nội công ngoại quốc“. Kiểu kiến trúc sử dụng không gian nửa kín nửa hở để tách biệt với thế giới bên ngoài nhưng vẫn gần gũi với nhân dân. Đủ để thỏa mãn yêu cầu tu hành được thiền sư Pháp Loa đã viết trong sách Tam Tổ Thực lục “cảnh không gần nhân gian mà cũng không xa nhân gian, vì gần thì ồn ào, mà xa thì không ai giúp đỡ cho. Cảnh có thể là chỗ yên nghiệp để dưỡng thân, nuôi tính, tâm linh sáng suốt…”.
+ Tổ hợp không gian
Về bố cục mặt bằng, có chùa nhỏ chỉ gồm một tòa Thượng Điện một gian hai chái hoặc chỉ là những ngôi chùa hình chữ công, nhưng phổ biến và điển hình nhất trong thời gian này là lối bố cục mặt bằng kiểu “nội công ngoại quốc”. Trước cổng chùa thường có cổng tam quan và sau chùa có gác chuông hai tầng, kiến trúc tách rời độc lập với khối nhà chính. Đối với các công trình kiến trúc Phật giáo thời kỳ này, ngôi tháp nhỏ thường là tháp mộ không đóng vai trò quan trọng trong tổng thể.
Phật giáo phổ biến tới các làng xã, đồng hóa với các tín ngưỡng dân gian, song hành với các tôn giáo khác tạo nên không gian kiến trúc vô cùng khác biệt với các thời kỳ trước. Lối bố cục chữ “công” manh nha xuất hiện từ thời Lý với nhu cầu chạy đàn, sang thời Trần (được biết qua những mô hình đất nung nung nhỏ chôn theo mộ sư), tòa ống muống được thêm vào tăng diện tích chùa và để hành lễ trong những ngày mưa gió. Nhưng đến thời gian này, sự phát triển của hệ thống tượng thờ và nhu cầu hành lễ đã khiến kiểu chùa chữ “công” ở thời Mạc trở thành phổ biến. Cuối thế kỷ XVI, kiểu chùa “nội công ngoại quốc” bắt đầu xuất hiện (dựa theo văn bia chùa Phúc Lâm – Hà Tây). Kiểu mặt bằng này tạo cho ngôi chùa một sự bề thế, khang trang, làm thay đổi diện mạo kiến trúc Phật giáo một cách mạnh mẽ, mà vẫn giữ được khuôn viên vuông vắn, tạo nên một không gian cân đối, có chiều sâu, phù hợp với chức năng thờ cúng.
Nói chung, qua các thành phần kiến trúc rải rác trên thực địa và tư liệu văn bia cho thấy kiến trúc chùa tháp thời kỳ này về quy mô không to lớn như thời Lý Trần. Các ngôi chùa nhỏ, vóc dáng vừa phải, hòa vào làng xóm chung quanh. Tháp chủ yếu nhỏ lẻ, làm tháp mộ là chính. Điện chính thường là một gian bố cục chính giữa, các gian phụ bố trí bốn bên nhưng kích thước thường chỉ khoảng dài 12 mét mỗi cạnh. Bố cục này là bố cục hoàn chỉnh nhất của một ngôi chùa còn lưu giữ và phát triển đến các thời kỳ sau. Ngôi chùa gồm khối nhà phía trong (Tiền Đường – Thiêu Hương – Thượng Điện) hình chữ công (工), phía ngoài hình chữ khẩu (口) tạo nên hình chữ quốc (国) bao trùm, tuy trên thực tế, hai hình không hẳn lồng vào nhau mà có chung cạnh trên là tòa Tiền Đường. Hai đầu của nhà Tiền Đường nối với hai dãy hành lang chạy vuông góc hai bên nối với dãy nhà phụ phía sau (thường gồm nhà Tổ thờ các vị sư từng trụ trì ở chùa, nhà Oản là nơi để làm oản cũng trong ngày lễ và nhà nghỉ ngơi cơm nước gọi là Nhà thụ trai) tạo nên một hình vuông khép kín bao ngoài khu thờ Phật.
Được xây dựng tại những khu vực tương đối bằng phẳng, mặt bằng chùa thường dàn trải theo một trục dọc hoặc hướng vào một tâm điểm. Nguyên tắc bố cục chung là cân bằng, quy củ hoặc tự do một cách có hệ thống dễ tạo được sự trang nghiêm cho công trình. Các lớp kiến trúc được dàn theo tuyến ngang và phân bố hai bên trục xuyên tâm này tương đối cân bằng, các lớp nhà ngang liên tục cắt trục dọc tạo cảm giác sâu hơn về không gian. Khu trung tâm thờ Phật trong kiến trúc nội công ngoại quốc thường được đắp nền cao hẳn so với các khối nhà chung quanh, với ý nghĩa vào chùa là lên với Phật, nói lên sự tiếp nối truyền thống xây dựng chùa thờ Phật từ những thế kỷ đầu Công nguyên, đó là từ hình tượng những cây tháp thờ Phật vươn cao.
Tựu chung lại, nguyên tắc xây dựng chùa tháp từ thời Mạc về sau luôn theo quy tắc khép kín, biệt lập với thế giới bên ngoài, tạo ra một không gian tôn giáo thiêng liêng. Tuy nhiên, ở trong không gian khép kín đấy, mối tương quan hài hoà chính là sự hoà nhập đường nét kiến trúc với các yếu tố thiên nhiên. Ðã vào trong khuôn viên chùa, thì các kiến trúc đều được làm theo dạng mở, kiến trúc chuyển tiếp nhau dần dần.
+ Kiến trúc Phật điện
Mặt bằng Phật điện phổ biến là một khối nhà hình chữ công gồm tòa Thượng Điện thờ Phật một gian hai chái (còn gọi là hậu cung), tòa Bái Đường song song với tòa Thượng Điện dùng làm nơi hành lễ của Phật tử (còn gọi là Tiền Đường). Tòa Thiêu Hương là tòa nhà nối giữa Bái Đường và Thượng Điện, là nơi để lễ Phật và thắp hương (tên gọi dân gian là tòa ống muống).
Kết cấu các công trình kiến trúc Phật giáo thời Mạc về cơ bản giống với kiến trúc Phật giáo thời Trần. Các cột được liên kết với nhau bằng các vì kèo tạo thành bộ khung đỡ toàn bộ sức nặng của mái nhà. Trên cùng hai cột cái nối với nhau bằng một câu đầu lớn úp chụp từ trên xuống. Cột cái nối sang hai cột quân bằng các xà nách nhỏ. Trên các câu đầu và xà nách là các bộ phận liên kết con rường và đấu vuông thót đáy đỡ hoành. Càng lên cao, con rường càng ngắn lại do mái nhà thu lại. Rường cánh trên cùng, chân mộng được tạo như một chốt khóa vững chắc ăn sang bên kia thân cột được tạo hình đầu dư trang trí hình rồng. Các bộ khung được nối bằng các xà dọc (thường gồm hai xà song song là xà thượng và xà hạ), ngạch, dầm (nối các chân cột với nhau) tạo thành một thể thống nhất và ổn định. Vì kèo kiểu chồng rường phổ biến trong thời kỳ này (nguồn gốc vì chồng rường từ kiến trúc Trung Quốc được du nhập vào nước ta rất sớm) có độ bền vững và ổn định hơn loại vì kẻ chuyền của văn hóa bản địa. Tuy vậy, trong quá trình tiếp thu của từng thời kỳ, vì kèo chồng rường cũng có những biến đổi cho phù hợp với văn hóa bản địa mang những đặc trưng riêng của từng thời. Các vì chồng rường cuối Trần hai trụ đấu giữa của vì nóc được nâng cao tạo thành một khoảng trống cho các trang trí lá đề, thì sang thời Mạc, các trụ trên vì nóc ngắn, phía trong khoảng trống được bịt kín bằng “ván rốn nhện”. Các quầng sáng nhọn đầu chỉ còn là một đường khắc chìm chạy viền quanh tấm ván đó. Phía trong các đường viền không trang trí những hình rồng trang nghiêm nữa, mà có bố cục sinh động hơn với những hình hổ (chùa Bà Tấm), hình thú (chùa Cói).
Vì kèo chùa nói chung đơn giản do quy mô chùa thời này thường không lớn, gồm 4 hàng cột (2 cột cái ở giữa, hai cột quân hai bên), riêng chùa Cói có 6 hàng cột nhưng có thể hai hàng cột hiên được thêm vào ở thời kỳ sau. Kết cấu kiến trúc chùa Cói dựa trên 4 cột cái ở giữa, tạo thành 2 bộ vì giá chiêng đỡ mái. Bốn cột cái nối ra các cột quân và cột hiên bằng những cốn và xà nách tạo thành dạng kiến trúc một gian hai chái, 4 mái hình vuông. Bộ vì theo kiểu chồng rường, bẩy hiên nhưng tạo cho ngôi chùa có vẻ thoáng đãng hơn và nhẹ nhàng hơn so với thời Trần.
Mái nhà của các tòa thường là 4 mái, hai mái chính chạy dọc và hai mái phụ hai bên. Người ta đắp gờ diềm nổi cao giữa các mặt mái (giữa hai mái chính gọi là bờ nóc, và giữa mái chính và mái phụ gọi là bờ dải). Trang trí hai đầu bờ nóc là những con kìm được đắp cao dưới hình dạng đầu rồng. Góc đao được uốn cong bởi nhiều phiến đất nung mỏng được kê chốt chặt chẽ (khác với kiểu đầu đao lá mái của đình làng) nên bộ mái không có tính bay bổng nhiều. Đây có thể là sự bảo lưu lối cấu trúc cũ từ nguồn gốc phương Bắc, về sau mái đao chùa mới được thực sự uốn cong theo kỹ thuật truyền thống của mái đình.
+ Vật liệu và kỹ thuật xây dựng
Thời Mạc, vật liệu chủ yếu vẫn sử dụng vật liệu gỗ, gạch, đất nung và đá trong xây dựng tháp và chùa. Các công trình truyền thống thường sử dụng vật liệu gỗ (gỗ lim, gỗ đinh, gụ, táu)… cho hệ thống kết cấu khung cột, hệ thống cửa, rui hoành… Ðá thường được sử dụng là đá nguyên khối từ đá ong, đá sa thạch, đá xanh… sử dụng trong nền, bậc cấp, chân tảng.
Một số vật liệu đất nung hiện còn từ thời Mạc không thể không kể đến là các dạng gạch vồ trang trí hình con thú, lá cây độc đáo cỡ 39 x 16 cm, gạch trang trí chữ vạn 40 x 20 cm.
Trên đỉnh nóc là ngói cong máng úp thường gọi là ngói bò. Ngói mũi hài (phía trên mỏng, phía dưới dày nhô lên hình mũi hài) dày và lớn được tìm thấy ở chùa Mui, chùa Trăm Gian với kích thước thường thấy là 32 x 22 x 3cm, mũi ngói cong cao 6,7cm được sử dụng để lợp mái. Các viên ngói có gờ nổi cao để bám chắc vào hệ thống rui mè của sườn nhà. Cuối dốc mái là hàng ngói giọt gianh mũi thẳng rộng 25 cm, dài 40 cm.
Kỹ thuật xây dựng thời Mạc kế thừa từ những thời kỳ trước đặc biệt là thời Trần thể hiện qua giải pháp xây dựng. Chùa chữ “công” phát triển từ hai ngôi chùa chữ “đinh”, thành hai gian chữ nhất nối với nhau bằng ống muống. Bộ vì kèo gỗ theo kiểu chồng rường và bẩy hiên tạo cho công trình có dáng dấp bề thế nhưng thanh thoát hơn.
Những thợ đá tài hoa của một thời Lý Trần đã bị giặc Minh tàn sát và bắt bớ khiến nghề đá dưới thời Lê Sơ và thời Mạc không thể phục hồi. Dường như nghề đục đá phải bắt đầu mới hoàn toàn với một thế hệ nghệ nhân mới. Thời này ta không bắt gặp các kiệt tác bằng đá xanh như thời Lý Trần. Tuy nhiên, bên cạnh đó, nghề chạm khắc gỗ thời Mạc vẫn tiếp thu được những đường nét tinh xảo thời trước, các kỹ thuật chạm thủng chạm bong được phát triển hoàn hảo. Bí quyết làm cho các kiến trúc gỗ bền vững, hệ khung cân bằng ổn định, bên cạnh việc chọn vật liệu (gỗ to, gỗ tốt, đá cứng hay gạch nung già) hay sự tính toán hợp lý của người xưa về cả hình học, vật lý, cả về mỹ thuật và kỹ thuật thi công xây dựng đã được kế thừa và áp dụng.
+ Trang trí, điêu khắc
– Tuy những bức chạm đẹp có giá trị về trang trí điêu khắc thời Lê Sơ không có mặt trong các công trình Phật giáo, nhưng bài viết cũng đề cập sơ qua để bạn đọc nắm được dòng chảy liên tục của nghệ thuật mỹ thuật nước nhà. Đầu thời kỳ Lê Sơ, giai cấp phong kiến chưa bị ảnh hưởng của văn hóa phương Bắc nên hoa văn truyền thống được sử dụng nhiều. Những đường nét tinh tế, chắc khỏe từ thời Trần được kế thừa và đổi mới. Sự chắc khỏe trong hình khối và hình thái biểu hiện hoàn chỉnh của các mẫu hoa văn trang trí cũng như sự hài hòa trong bố cục.
Về sau, điêu khắc thời Lê Sơ sử dụng thủ pháp cân xứng, đăng đối, dường như ở mỗi tác phẩm đều dựa trên trục thần đạo. Hình rồng thời kỳ này về mọi thành tố thì cơ bản vẫn được kế thừa từ thời kỳ trước nhưng có những điểm khác biệt như mồm kiểu mõm thú, dài nhô ra trước, tư thế chính diện hay nghiêng thì hai con mắt vẫn tròn lồi, mũi sư tử, hình thức dữ tợn, chi tiết nghệ thuật không còn lãng mạn mà có tính chất cung đình chính thống, xa rời nghệ thuật dân gian. Hình tượng rồng mang những yếu tố của rồng Trung Hoa (mắt quỷ, miệng lang, sừng hươu, tai thú, trán lạc đà, mũi sư tử, thân rắn, vẩy chép, chân cá sấu, móng chim ưng…)
Loại hoa văn hình sóng nước cũng tương đối phổ biến trong nghệ thuật trang trí thời Lê Sơ (xuất hiện tại các diềm chân bia và bệ tượng). Nghệ thuật trang trí hình sóng mang tính tả thực, hoa văn sóng nước ngoài kiểu uốn lượn hình sin kế thừa thời Lý và Trần có đơn giản hóa trong chi tiết, thì xuất hiện thêm kiểu các ngọn sóng cung tròn đồng tâm nối tiếp nhau tạo thành nhiều lớp, ở chính giữa có hình sóng bạc đầu với những bọt hình hoa, đây là dạng hoa văn mang đậm tính ngoại lai (phổ biến trong nghệ thuật trang trí phương Bắc thời Minh). Hoa văn trang trí thời Lê Sơ khá phong phú, hình mây là sự phát triển của hình mây thời Lý sang thời Mạc và Lê Trung Hưng. Các trang trí hình mây trời thường gặp là những cụm mây xoắn ốc hai đầu, đè so le lên nhau hoặc quấn lấy nhau tạo thành lớp, ngoài ra mây kéo dài hình như ngọn lửa cũng thường gặp ở thời kỳ này. Ngoài ra, trang trí thời Lê Sơ còn có loại hoa văn hình sừng nhọn và u tròn chạm nổi trên bệ đá.
– Sang đến thời Mạc, mỹ thuật trở nên tương đối đa dạng, được thể hiện trên các chất liệu gỗ tinh tế, trên đá tả thực thô vụng, trên gốm điêu luyện phóng khoáng. Trong cách tạo tác, nghệ nhân không bị bó buộc vào quy luật cụ thể nào. Các bộ phận chạm khắc trên cùng một mảng chạm luôn đầy đủ chi tiết cả khi nhìn nghiêng và tỉ lệ không được chú ý nhiều.
Trong nội thất các công trình chùa thời Mạc, các nghệ nhân tận dụng mọi thành phần kiến trúc để trang trí làm đẹp thêm cho tác phẩm. Các đầu bẩy, đầu dư, cốn, lá gió… được biến thành những trang trí vô cùng đẹp mắt với các đề tài như rồng, phượng (chùa Trà Phương, gạch chùa Trăm gian), lân (bệ tượng chùa Ngo, gạch chùa Bối Khê) sóng nước, mây lửa, hoặc một số con vật như hổ (gạch chùa Sổ, chùa Trăm Gian), hươu (gạch chùa Trăm Gian), voi (gạch chùa Trăm Gian), ngựa (chùa Trăm gian, chùa Đậu, Bà Tấm). Các bức chạm về cảnh sinh hoạt của con người như cảnh dắt ngựa cho quan, cầu hiền, cưỡi hổ báo (chùa Cói). Các tượng gắn trên kiến trúc như nhạc sĩ và vũ nữ thiên thần được tạc trên các đòn tay nhô ra từ đấu ba chạc (chùa Đông – Hà Tây).
Đề tài trang trí liên quan đến lực lượng thiên nhiên (hoa cúc, mặt trời) được chạm giữa các bông hoa sen nở (bệ chùa Cập Nhất – Hưng Yên), hoặc mặt trời chạm riêng biệt, tỏa đao sáng hai bên (chùa Dâu – Bắc Ninh). Các cặp sừng nhọn đặt chéo nhau (tượng trưng cho linh vật) đi đôi với nhau tạo thành lưỡng nghi (âm dương) và các u tròn (tượng trưng cho sự giao kết của lưỡng nghi). Nền dưới các cặp sừng và u tròn thường thấy là loại cây thiên mệnh với những đường nét khúc khuỷu ấp ủ nguồn sinh khí. Tất cả hệ thống đó tạo nên một nguồn năng lượng vô biên làm nảy sinh cây trồng, muôn loài phát triển dưới sự bảo trợ của Phật và Bồ Tát. Lá và hoa sen cũng là một đề tài phổ biến mang tính tinh tế, thanh khiết, chiếc lá sen được chạm trên nền sóng nước, hoặc làm bệ đỡ cho các dạng hồi văn, đôi khi đỡ các cặp sừng và u tròn… Các đề tài vân xoắn (thể hiện cho tia chớp) chạm thủng, hoặc được xếp ken vào nhau, hoặc làm trung tâm mảng chạm, hoặc làm nền cho các linh thú thường đi cùng với các đao mác (tượng trưng cho tia sáng) được tìm thấy phổ biến trong chạm khắc kiến trúc đình chùa.
Rồng thời Mạc đẹp về hình thức và gần gũi về tinh thần giống như rồng thời Lý. Tuy nhiên, hình tượng con rồng đã thoát ra khỏi biểu tượng của vương quyền mà chỉ còn mang ý nghĩa quyền lực huyền bí. Tượng rồng chạm tròn có nhiều loại mang phong cách khác nhau, loại đầu mang phong cách thế kỷ 13, 14 nhưng chắc khỏe hơn, các cụm mây lớn và ít dày đặc, đôi khi chạm khắc rồng đưa chân lên vuốt râu, nhiều sóng cuộn dưới bụng. Loại thứ hai ảnh hưởng phong cách Lê Sơ thì phần mặt nhất là mồm đã được rút ngắn lại bớt dữ tợn hơn (chùa Cói), thân ngắn, mập, kèm trên thân là các đao mảnh chạm bong. Loại thứ ba là hình rồng kết hợp cả hai phong cách trên với mũi to, tai và sừng hai chạc, trán ngắn nhưng dáng khỏe chắc theo kiểu rồng Trần nhưng không có mào, được kết hợp với những mảng vân xoắn lớn (chùa Ngo, chùa Bối Khê). Còn một số hình rồng rải rác mang đầy tính dân gian như thân nhiều đoạn gẫy vuông góc (bệ tượng Quân Âm chùa Hạ – Vĩnh Phúc), nhiều bia với niên đại xác định cũng có những hình rồng khác nhau không ổn định phong cách chung, chỉ có một điểm chung là hay được chạm đi kèm với vân xoắn và đao nhọn điểm xuyết hoa văn chữ S, bộc lộ tư duy dân dã về sức mạnh thiên nhiên ẩn chứa trong hình dạng rồng.
Một vài đặc điểm khác biệt nhận thấy giữa thời Mạc so với thời kỳ trước là: trang trí thời Lý Trần gồm những đề tài đề cao Phật giáo hoặc thống nhất và mang ý nghĩa cụ thể nào đó. Thời Lê Sơ ảnh hưởng tạo hình của Trung Quốc chủ yếu tập trung vào các linh vật. Sang thời Mạc, bên cạnh các đề tài truyền thống có xuất hiện những mảng chạm mang những nét phản ánh đời thường và tính dân dã mạnh dần.
+ Bài trí tượng thờ
Một số tượng tròn nổi tiếng có niên đại tuyệt đối dưới thời kỳ này đã đóng góp một phần không nhỏ vào kho tàng mỹ thuật nước nhà. Tượng Phật Bà ngàn mắt ngàn tay, biểu tượng của lòng từ bi bác ái tại chùa Hạ, tượng Quan Âm Nam Hải ở chùa Cập Nhất năm 1582, các tượng Tứ Pháp… Các tượng thờ vẫn bộc lộ khuynh hướng tượng Phật chính thống mặc dù nhiều chi tiết đã được biến đổi mang tính dân gian. Phong cách tạc tượng thời kỳ này là sự nối tiếp của tượng tròn thời Lý, những biểu hiện quý tướng của Phật trong vẻ đẹp trầm tư, thân mình sang quý, nếp áo rủ mềm mại. Những điểm dễ nhận nhất của các tượng tròn thời kỳ này là thân ngắn vai xuôi, lưng tròn eo nhỏ. Nhiều pho tượng đẹp tạc bằng gỗ mít, gỗ hoàng tâm, đặc biệt là tượng Quan Âm hiện còn nguyên vẹn cho tới ngày nay với dáng vẻ trầm ngâm suy tư thế sự mà trong sáng, nhân hâu, truyền tải được sự từ bi trong từng nét điêu khắc. Tượng Quan Âm được mô tả trong tư thế ngồi thiền, đứng, trong hình dạng Quan Âm Thiên thủ thiên nhãn (hoặc dạng Việt hóa Phật mẫu Chuẩn đề).
Hệ thống tượng thời Mạc cũng đa dạng phong phú hơn các thời kỳ trước cho thấy sự phát triển nghệ thuật tạo hình và là sự minh chứng cho sự giao lưu của Phật giáo với các tôn giáo khác. Phật giáo được dân gian hóa thích ứng với yêu cầu của xã hội đương thời. Những tượng Phật theo quan niệm dân gian được thờ phổ biến trong các Phật điện. Ở thời Mạc, ghi nhận được trong điện thờ các dạng tượng Tam thế (chùa Nành, chùa Dâu, chùa Lệ Mật, chùa Trà Phương), tượng Quan Âm (chùa Cập Nhất, chùa Hội Hạ, chùa Thượng trưng, chùa Ngo, Bối Khê, Đa Tốn), Thích Ca cửu long. Bên cạnh đó có tượng Ngọc Hoàng (chùa Vua – Hà Nội, chùa Ngo), tượng Tứ pháp (tượng Pháp Lôi hiện đặt tại chùa Thái Lạc), thiên thần và nhạc công thiên thần, tượng diêm vương… Các hình tượng vua, công chúa dưới hình thức Phật tử. Có thể kể đến tượng Mạc Đăng Dung được tạo tác mang dáng dấp giống với tượng Ngọc Hoàng, phù điêu Nguyễn Thị Ngọc Toàn, vợ Mạc Đăng Dung sử dụng chất liệu đá vôi tại chùa Trà Phương – Hải Phòng.
– Kết luận
Trong vòng hai mươi năm đầu, mỹ thuật thời Lê Sơ với phong cách phóng khoáng, ngôn ngữ tạo hình trong sáng, là tiền đề nối nguồn mỹ cảm dân gian thời Trần đến những thế kỷ sau. Một điều đáng tiếc trong thời kỳ này, tuy là thời kỳ mở đầu cho nghệ thuật dân gian phát triển lại không có đóng góp của kiến trúc Phật giáo do sự bảo thủ của hệ tư tưởng phong kiến. Về sau, dưới ảnh hưởng của nghệ thuật phương Bắc, tính dân tộc trong kiến trúc thời gian đó bị mờ nhạt, nghệ thuật cung đình phát triển với những cách biệt và ưu thế rõ rệt. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng này không kéo dài lâu, về cơ bản, ý thức dân tộc vẫn chi phối tư tưởng xã hội. Tinh thần yêu nước, ý chí độc lập đã là nguồn sức mạnh nuôi dưỡng nền văn hóa mang tính dân tộc, thoát khỏi những tác động ngoại lai do Nho giáo đem lại.
Kiến trúc thời Mạc ngoài những nét kế thừa của nền mỹ thuật và kiến trúc thời Lý Trần, đồng thời còn mang đậm những nét riêng biệt của thời Lê Sơ, thời Mạc còn tạo nên một sự đổi khác trong mỹ thuật, đánh dấu bước chuyển tiếp từ nghệ thuật chính thống sang nền mỹ thuật dân dã. Mỹ thuật Mạc vô cùng đa dạng vì thế, xen lẫn những hoa văn cao quý là những họa tiết giản đơn, xen lẫn sự trang nghiêm là nét phóng túng… Thời Mạc, chỉ một giai đoạn ngắn trong lịch sử đã có những tác động đến phương diện kiến trúc nói chung và kiến trúc Phật giáo nói riêng. Nền nghệ thuật dân gian được dịp trỗi dậy mạnh mẽ, các chùa làng được xây dựng và tu bổ nhiều góp phần tạo nên một nền mỹ thuật có giá trị thẩm mỹ cao. Khác với thời Lê Sơ, nghệ thuật hướng ngoại và bế tắc, thời kỳ này đã đưa nghệ thuật dân tộc trở về với vị thế của mình. Điều này, một lần nữa minh chứng cho truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc, cho dù bị tàn phá, bị lai căng, bị thể chế chi phối… vẫn luôn hướng đến Chân Thiện Mỹ mang sắc thái riêng mình.
———————Tài liệu tham khảo:
Lê Mạnh Thát. Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam tập 1 (1999), tập 2 (2001), tập 3 (2002), NXB Tp. HCMTrần Lâm Biền. Chùa Việt. NXB VH-TT 1996Nguyễn Ðăng Duy. Văn hoá tâm linh. NXB VH-TT 2001Nguyễn Ðức Nùng và các tác giả. Mỹ thuật thời Lê Sơ. NXB VH năm 1979Nguyễn Tiến Cảnh, Nguyễn Du Chi, Trần Lâm, Nguyễn Bá Vân. Mỹ thuật thời Mạc. Viện Mỹ thuật năm 1993
[Tập san Pháp Luân số 16]